Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm tiế bởi lo ngại nhu cầu nhiên liệu toàn cầu sẽ giảm trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế chậm dần lại.
Kết thúc phiên, dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) giao tháng 3/2019 giảm 39 US cent xuống 52,57 USD/thùng; dầu Brent giao cùng kỳ hạn trên sàn London cũng giảm 36 US cent xuống 61,14 USD/thùng.
Ngày 21/1/2019 Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cảnh báo đối đầu thương mại Mỹ-Trung, việc Anh rời khỏi Liên minh châu Âu (EU) còn gọi là Brexit, cùng những bất ổn khác đang có nguy cơ khiến tăng trưởng toàn cầu bị giảm sâu hơn nữa. IMF đã hạ mức tăng trưởng toàn cầu trong năm nay xuống 3,5% từ mức 3,7% đưa ra hồi tháng 10/2018. Thể chế tài chính này dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong năm 2020 là 3,6%.
Giới kinh doanh cũng đang xem xét khả năng Mỹ trừng phạt đối với ngành dầu mỏ của Venezuela, hành động sẽ dẫn đến nguồn cung thị trường bị thắt chặt hơn.
Các chuyên gia lưu ý giá dầu vẫn nhận được sự trợ lực trong năm 2019 nhờ chương trình cắt giảm sản lượng của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) nhằm kiềm chế tình trạng dư cung. Dù vậy, các chuyên gia cho rằng nỗ lực của OPEC có thành công hay không vẫn phụ thuộc vào tình hình sản xuất dầu thô tại Mỹ - nước đã khai thác 11,9 triệu thùng/ngày năm 2018.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng vững trong bối cảnh chứng khoán sụt giảm gần đây khiến các nhà đầu tư lại chuyển hướng sang những kênh an toàn như vàng.
Cuối phiên, giá vàng giao ngay vững ở mức 1.283,43 USD/ounce, trong phiên có lúc xuống 1.278 USD/ounce; vàng giao sau vững ở 1.284 USD/ounce.
Nhà giao dịch Michael Matousek, tại U.S. Global Investors, nhận định sự yếu đi của chứng khoán là nhân tố hỗ trợ giá vàng và thị trường đang chuyển hướng sang kim loại quý này như một tài sản an toàn. Trong phiên này, các chỉ số chứng khoán toàn cầu có lúc đã rơi vào vùng âm, giữa những lo lắng của giới đầu tư về tình hình chính trị tại Mỹ và triển vọng kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, sau đó thị trường chứng khoán toàn cầu đã phục hồi.
Bên cạnh đó, sự sụt giảm của chỉ số đồng USD cũng hỗ trợ tích cực cho giá vàng. Vào đầu phiên, chỉ số này đã rơi xuống mức thấp nhất trong năm phiên. Trong năm 2018, trước tình hình căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc, đồng USD đã vượt qua vàng để trở thành “nơi trú ẩn” ưa thích của giới đầu tư.
Tuy nhiên, các nhà phân tích nhận định kịch bản nói trên sẽ không tái diễn trong năm nay, khi triển vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) dừng tăng lãi suất đang gây sức ép đối với đồng bạc xanh.
Đối với những kim loại quý khác, giá bạc giảm 0,1% xuống 15,31 USD/ounce, còn giá bạch kim tăng 0,9% lên 795 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá nhôm tăng lên mức cao nhất 1 tháng, do các dấu hiệu nhu cầu tăng trong khi dự trữ trên sàn giao dịch London giảm.
Giá nhôm giao sau 3 tháng trên sàn London tăng 1,4% lên 1.909 USD/tấn, trong phiên có lúc đạt mức cao nhất kể từ ngày 24/12/2018.
Xuất khẩu alumina – nguyên liệu sản xuất nhôm - của Trung Quốc trong tháng 12/2018 giảm 37,9% so với tháng trước đó xuống 177.430 tấn.
Giá sắt thép tại Trung Quốc giảm sau hoạt động bán tháo, do tâm lý lo ngại nhu cầu suy yếu, trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu chậm lại.
Giá thép cây kỳ hạn trên sàn Thượng Hải giảm sau 4 phiên tăng liên tiếp và đạt mức cao nhất 12 tuần trong phiên trước đó. Giá thép cây giảm 0,6% xuống 3.644 CNY (537,13 USD)/tấn và giá thép cuộn cán nóng, sản phẩm được sử dụng sản xuất ô tô và thiết bị gia dụng giảm 0,3% xuống 3.559 CNY/tấn. Đồng thời, giá quặng sắt kỳ hạn trên sàn Đại Liên giảm 0,9% xuống 527 CNY/tấn.
Giá thép và quặng sắt chịu áp lực giảm sau số liệu Hiệp hội Sắt và Thép Trung Quốc (CISA) cho biết, sản lượng thép thô trung bình ngày tại các nhà máy thép thành viên giai đoạn từ 1-10/1/2019 đạt 1,84 triệu tấn, tăng 3,5% so với giai đoạn 21-31/12/2018, gây lo ngại dư cung trong ngắn hạn.
Sản lượng thép thô Nhật Bản giảm xuống mức thấp nhất 9 năm trong năm 2018, do một loạt các thảm họa tự nhiên và trục trặc tại các nhà máy thép khiến sản lượng giảm, mặc dù nhu cầu tại nước sản xuất lớn thứ 2 thế giới tăng.
Sản lượng thép thô giảm năm thứ 4 liên tiếp trong năm 2018, giảm 0,3% xuống 104,33 triệu tấn, thấp nhất kể từ năm 2009, Liên đoàn Sắt và Thép Nhật Bản cho biết. Sản lượng thép thô trong quý 4/2018 giảm 2,6% so với cùng quý năm 2017 xuống 25,7 triệu tấn. Sản lượng trong tháng 12/2018 giảm 2,9% so với cùng tháng năm 2017 và giảm 2,2% so với tháng 11/2018 xuống 8,47 triệu tấn, tháng giảm thứ 4 liên tiếp.
Điều này xảy ra khi niềm tin của các nhà sản xuất Nhật Bản giảm tháng thứ 3 liên tiếp trong tháng 1/2019 xuống thấp nhất 2 năm, do lo ngại về sức khỏe nền kinh tế toàn cầu và căng thẳng thương mại.
Trên thị trường nông sản, giá đường trắng giao tháng 3 trên sàn London tăng 2,1 USD tương đương 0,60% đạt 350,70 USD/tấn, trong khi đường thô giao cùng kỳ hạn trên sàn New York tăng 0,04 US cent tương đương 0,31% lên 12,97 US cent/lb.
Cà phê arabica giao tháng 3/2019 tăng 0,05 US cent tương đương 0,5% lên 1,034 USD/lb, robusta giao cùng kỳ hạn tăng 7 USD tương đương 0,4% lên 1.523 USD/tấn.
Giá cao su tại Tokyo tăng trở lại do kỳ vọng các nhà đầu cơ sẽ tiếp tục mua vào, bất chấp lo ngại về nền kinh tế toàn cầu. Giá cao su kỳ hạn tháng 6/2019 trên sàn TOCOM tăng 0,1 JPY lên 183,7 JPY (1,68 USD)/kg, trong phiên trước đó chạm 180,4 JPY/kg, thấp nhất kể từ ngày 16/1/2019. Trong khi đó, giá cao su kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn Thượng Hải giảm 95 CNY xuống 11.615 CNY (1.712 USD)/tấn.
Nhà phân tích hàng hóa Toshitaka Tazawa thuộc Fujitomi Co. cho biết: "Không có tin tức cơ bản nào thúc đẩy thị trường, song một số quan điểm cho rằng, hoạt động mua vào của các nhà đầu cơ Trung Quốc sẽ giữ giá hợp đồng tháng 1/2019 và tháng 2/2019 ở mức cao".
Giá dầu cọ tại Malaysia giảm từ mức cao nhất 4 tháng trong phiên trước đó và rời khỏi chuỗi tăng 3 phiên liên tiếp, do giá dầu thô suy yếu và các nhà đầu tư bán ra chốt lời.
Giá dầu cọ kỳ hạn tháng 4/2019 trên sàn Bursa giảm 0,2% xuống 2.258 ringgit (546,6 USD)/tấn.
Giá dầu cọ chịu ảnh hưởng bởi giá dầu thô biến động, do dầu thực vật được sử dụng để sản xuất nhiên liệu sinh học. Giá dầu cọ giảm do hoạt động bán ra chốt lời sau khi tăng cao phiên trước đó, song mức giảm có thể là tạm thời nếu số liệu sản lượng cho thấy sự sụt giảm phù hợp với xu hướng thời vụ.
Giá đậu tương tại Mỹ tăng, do lo ngại thời tiết xấu ảnh hưởng đến năng suất cây trồng tại Nam Mỹ, trong khi các thương nhân tiếp tục dõi theo những tiến triển trong quan hệ thương mại của Mỹ với nước nhập khẩu đậu tương hàng đầu – Trung Quốc.
Giá đậu tương kỳ hạn tháng 3/2019 trên sàn Chicago tăng 5-3/4 US cent lên 9,15 USD/bushel.
Chủ tịch phân tích Dan Cekander cho biết: "Giá đậu tương kỳ hạn trên sàn Chicago tăng, do thời tiết khô tại khu vực đông bắc Brazil kéo dài và thời tiết ẩm tại khu vực phía đông Argentina, đe dọa sản lượng đậu tương Nam Mỹ".
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

52,27

-0,39

Dầu Brent

USD/thùng

61,14

-0,36

+0,05%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

40.670,00

-330,00

-0,80%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,03

+0,05

+1,81%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

138,90

+0,33

+0,24%

Dầu đốt

US cent/gallon

188,93

+0,07

+0,04%

Dầu khí

USD/tấn

569,50

+1,00

+0,18%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

57.210,00

-290,00

-0,50%

Vàng New York

USD/ounce

1.283,30

-0,70

-0,05%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.511,00

-7,00

-0,15%

Bạc New York

USD/ounce

15,40

+0,02

+0,10%

Bạc TOCOM

JPY/g

53,90

-0,60

-1,10%

Bạch kim

USD/ounce

 

+2,32

+0,29%

Palađi

USD/ounce

1.354,25

+3,71

+0,27%

Đồng New York

US cent/lb

266,20

+0,75

+0,28%

Đồng LME

USD/tấn

5.951,50

+16,50

+0,28%

Nhôm LME

USD/tấn

1.909,00

+26,00

+1,38%

Kẽm LME

USD/tấn

2.620,00

+44,00

+1,71%

Thiếc LME

USD/tấn

20.700,00

+275,00

+1,35%

Ngô

US cent/bushel

378,75

0,00

0,00%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

527,25

+1,25

+0,24%

Lúa mạch

US cent/bushel

294,00

-0,75

-0,25%

Gạo thô

USD/cwt

10,73

-0,03

-0,28%

Đậu tương

US cent/bushel

915,50

+0,50

+0,05%

Khô đậu tương

USD/tấn

313,30

+0,40

+0,13%

Dầu đậu tương

US cent/lb

29,40

+0,02

+0,07%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

485,10

-0,80

-0,16%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.245,00

-1,00

-0,04%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

103,40

+0,05

+0,05%

Đường thô

US cent/lb

12,97

+0,04

+0,31%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

117,90

-1,30

-1,09%

Bông

US cent/lb

73,52

+0,39

+0,53%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

366,10

+2,70

+0,74%

Cao su TOCOM

JPY/kg

182,30

-1,40

-0,76%

Ethanol CME

USD/gallon

1,27

0,00

-0,08%

Nguồn: VITIC/Bloomberg. Reuters. CafeF