Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng trở lại do các nhà đầu tư lo ngại căng thẳng địa chính trị ở khu vực Trung Đông sẽ hạn chế nguồn cung dầu mỏ toàn cầu. Kết thúc phiên giao dịch, dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 6/2018 tăng 0,24 USD lên 68,64 USD/thùng; dầu Brent giao cùng kỳ hạn cũng tăng 0,65 USD (hay 0,9%) lên 74,71 USD/thùng.
Theo thông tin kênh truyền hình Al Arabiya, lực lượng phòng không của Saudi Arabia đã đánh chặn được 2 quả tên lửa mà lực lượng Houthi bắn về phía thành phố Jazan. Giá dầu cũng được hỗ trợ khi nhà cung cấp thông tin năng lượng Genscape cho biết, tồn kho dầu thô của Mỹ tại Trung tâm lưu trữ Cushing, Oklahoma suy giảm.
Theo chuyên gia mảng thị trường quốc tế Kery Graig thuộc mảng quản lý của JPMorgan, giá dầu mỏ tăng do Mỹ áp lệnh trừng phạt đối với các nước xuất khẩu dầu mỏ hàng đầu thế giới, gồm có Venezuela, Nga và Iran.
Trong tháng này, giá dầu tăng cao nhất kể từ cuối năm 2014. Giá dầu được hậu thuẫn bởi các biện pháp trừng phạt của Mỹ đối với các công ty và cá nhân Nga và lo ngại Washington có thể áp dụng các biện pháp mới chống lại Venezuela và đặc biệt thành viên của OPEC là Iran. Đến ngày 12/5 Mỹ sẽ quyết định liệu sẽ duy trì thỏa thuận hạt nhân với Iran và áp đặt các biện pháp trừng phạt mới chống lại Tehran. "Sự không chắc chắn của chính quyền khiến mọi thứ trở nên khó khăn hơn", McGillian cảnh báo, các biện pháp trừng phạt đối với Iran hay Venezuela cũng có thể gây ra những thay đổi trên thị trường.
Bộ trưởng dầu mỏ Iran Bijan Zanganeh cho biết, sẽ không cần gia hạn Hiệp ước giữa Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ và các nhà sản xuất ngoài OPEC nếu giá dầu tăng mạnh, trang web chính thức của Bộ cho biết.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm xuống mức thấp nhất 2 tuần do USD tăng mạnh. Vàng giao tháng 6 giảm 14,3 USD, hay 1,1% xuống còn 1.324 USD/ounce.
Đồng USD tăng lên mức cao nhất trong bảy tuần qua sau khi lợi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm của Mỹ tăng lên gần 3%, mốc quan trọng về mặt tâm lý với giới đầu tư. USD mạnh lên sẽ khiến vàng vốn là kim loại quý được định giá bằng đồng tiền này trở nên đắt đỏ hơn với người mua nắm giữ các đồng tiền khác. Chuyên gia phân tích Jonathan Butler của Mitsubishi cho biết nếu lợi suất trái phiếu chính phủ của Mỹ vượt 3% thì đây sẽ là lần đầu tiên trong 5 năm qua lợi suất trái phiếu chính phủ phá vỡ ngưỡng này, và từ đó sẽ làm gia tăng chi phí cơ hội của việc nắm giữ vàng.
Vàng trong phiên này cũng chịu áp lực sau khi Triều Tiên hồi cuối tuần qua cho biết sẽ tạm ngừng các vụ thử tên lửa và hạt nhân trước thềm các hội nghị thượng đỉnh với Hàn Quốc và Mỹ như kế hoạch. Vàng vốn được xem là kênh trú ẩn an toàn trong những thời kỳ bất ổn về chính trị. Ngoài ra, giá vàng giảm một phần cũng bởi dấu hiệu cho thấy quan hệ Mỹ-Trung đang ấm dần lên.
Giá palađi phiên vừa qua giảm hơn 5% trong bối cảnh các biện pháp trừng phạt đối với Rusal Nga có thể giảm bớt, trong khi giá vàng chạm mức thấp nhất 2 tuần do các nhà đầu tư đổ xô vào đồng USD, với lợi tức trái phiếu Mỹ đạt gần 3%. Giá palađi giảm 4,4% xuống còn 984,7 USD/ounce, trong phiên có lúc giảm hơn 5% xuống còn 971,72 USD/ounce. Mỹ cho biết có thể giảm bớt các biện pháp trừng phạt đối với nhà sản xuất nhôm Rusal Nga, nếu Oleg Deripaska nhượng quyền kiểm soát của công ty, giảm bớt lo ngại Washington có thể mở rộng biện pháp trừng phạt đối với nhà sản xuất palađi Nornickel. Nornickel, nhà sản xuất palađi lớn nhất thế giới cùng với Rusal và Deripaska và lo ngại bởi các biện pháp trừng phạt của Mỹ đã đẩy giá tăng kể từ ngày 6/4.
Trong số các kim loại quý khác, giá bạc giao ngay giảm 2,8% xuống còn 16,63 USD/ounce, trong khi giá bạch kim giảm 0,2% và được giao dịch ở mức 920,30 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá nhôm giảm 7%, là phiên giảm mạnh nhất trong 8 năm, do thông tin cho rằng Mỹ gia hạn các biện pháp trừng phạt đối với nhà sản xuất Rusal Nga. Giá nhôm giao kỳ hạn 3 tháng trên sàn London giảm 7% xuống còn 2.295 USD/tấn, ngày giảm mạnh nhất kể từ tháng 4/2010, trước đó giá nhôm giảm hơn 9% xuống còn 2.237 USD/tấn. Sự gia tăng đồng USD gây áp lực đối với giá các kim loại cơ bản. Đồng USD tăng lên mức cao nhất 7 tuần sau khi lợi tức trái phiếu Mỹ tăng lên mức cao nhất 10 năm. Dự trữ nhôm tại LME giảm 10.525 tấn xuống còn 1,385 triệu tấn.
Tuần trước giá nhôm đạt 2.718 USD/tấn, mức cao nhất kể từ giữa năm 2011, do lo ngại thị trường toàn cầu đối mặt với sự thiếu hụt nguồn cung bởi các biện pháp trừng phạt của Mỹ. Giá nhôm tăng hơn 14% trong tháng này. Rusal chiếm hơn 6% lượng nhôm toàn cầu trong năm 2017. Nickel đạt mức cao đỉnh điểm 3 năm trong ngày 19/4, do lo ngại các biện pháp trừng phạt có thể được mở rộng, trong phiên giá nickel cũng giảm hơn 6% trước khi đóng cửa giảm gần 4%.
Đối với những kim loại cơ bản khác, giá đồng giảm 0,7% xuống còn 6.943 USD/tấn. Dự trữ đồng tại LME giảm 20.225 tấn xuống còn 286.675 tấn, mức thấp nhất 1 tháng. Giá nickel tại LME giảm 3,8% xuông còn 14.265 USD/tấn, trong phiên có lúc chạm 13.830 USD/tấn. Giá kẽm giảm 0,1% xuống còn 3.229 USD/tấn, giá chì giảm 1,9% xuống còn 2.320 USD/tấn, giá thiếc giảm 3,1% xuống còn 21.050 USD/tấn.
Riêng giá thép kỳ hạn tại Trung Quốc tăng lên mức cao nhất 5 tuần sau số liệu cho thấy tồn kho suy giảm trong khi nhu cầu xây dựng tăng. Giá thanh cốt thép trên sàn Thượng Hải tăng 2% lên 3.545 NDT/tấn, trong phiên có lúc đạt 3.547 NDT (563 USD)/tấn, mức cao nhất kể từ ngày 16/3. Dự trữ thanh cốt thép, một sản phẩm thép xây dựng giảm 16% xuống còn 8,25 triệu tấn hôm 13/4 so với mức cao đỉnh điểm 5 năm đạt được giữa tháng 3/2018, công ty tư vấn SteelHome cho biết. Nhu cầu thép tại Trung Quốc – nước tiêu thụ hàng đầu thế giới – thường tăng mạnh vào tháng 4 và tháng 5 khi lĩnh vực xây dựng bước vào mùa cao điểm nhất trong năm.
Thị trường thép tăng mạnh thúc đẩy giá quặng sắt lên mức cao nhất 1 tháng. Giá quặng sắt trên sàn Đại Liên tăng 2,7% lên 479,5 NDT/tấn, trong phiên có lúc đạt 481,5 NDT/tấn, mức cao nhất kể từ ngày 22/3. Dự trữ quặng sắt tại các cảng lớn của Trung Quốc giảm tuần thứ 3 liên tiếp đạt 159,78 triệu tấn hôm 20/4, so với mức cao kỷ lục 161,68 triệu tấn cuối tháng 3, SteelHome cho biết.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica giao tháng 7 tăng 1,25 US cent tương đương 1,1% lên 1,1895 USD/lb, trong khi robusta giao cùng kỳ hạn tăng 10 USD tương đương 0,6% lên 1.759 USD/tấn. Marex Spectron dự báo dư cung cà phê toàn cầu trong niên vụ 2018/19 sẽ đạt 5 triệu bao loại 60 kg do sản lượng tăng ở Brazil.
Với các nông sản khác, giá cao su sụt giảm, với hợp đồng giao tháng 9 trên sàn TOCOM giảm 0,4 JPY tương đương 0,2% xuống còn 186,7 JPY/kg; hợp đồng giao cùng kỳ hạn trên sàn Thượng Hải cũng giảm 0,8% xuống còn 11.560 NDT/tấn.
Đường cũng giảm giá trong phiên vừa qua, với đường thô kỳ hạn tháng 7 giảm 0,47 cent tương đương 0,4% xuống còn 11,4 cent/lb, trong phiên có lúc giảm xuống còn 11,37 cent, mức thấp nhất kể từ tháng 8/2015 do tiền tệ của các nước sản xuất hàng đầu – Brazil – suy yếu và đề xuất trợ cấp giá đường cho nông dân tại Ấn Độ. Giá đường trắng kỳ hạn tháng 8 giảm 13,2 USD tương đương 3,9% xuống còn 329,2 USD/tấn. Đồng tiền Brazil giảm xuống mức thấp nhất kể từ tháng 12/2016 so với đồng USD. Thị trường đường gần đây liên tiếp chịu áp lực giảm bởi triển vọng dư cung toàn cầu năm 2017/19 lớn, một phần do sản lượng đường tại Ấn Độ và Thái Lan gia tăng. Bộ trưởng Ấn Độ đã đề xuất trợ cấp cho các nhà trồng mía đường khi họ bán sản phẩm cho các nhà máy đường, do nguồn cung lớn đã đẩy giá giảm, Bộ trưởng Thực phẩm Ram Vilas Paswan cho biết. Giá đường ở mức thấp, khiến các nhà máy đường tại Brazil sử dụng nhiều đường để sản xuất ethanol, mặc dù mức độ chuyển đổi có thể không nhiều, do giá nhiên liệu tái tạo tại Brazil suy giảm.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

68,64

+0,24

+0,38%

Dầu Brent

USD/thùng

74,71

+0,65

+0,9%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

46.850,00

+1.020,00

+2,23%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,74

+0,00

+0,07%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

213,06

+0,69

+0,32%

Dầu đốt

US cent/gallon

214,67

+0,58

+0,27%

Dầu khí

USD/tấn

650,25

+6,50

+1,01%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

62.800,00

+960,00

+1,55%

Vàng New York

USD/ounce

1.328,20

-4,20

+0,32%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.628,00

-15,00

-0,33%

Bạc New York

USD/ounce

16,65

-0,06

-0,38%

Bạc TOCOM

JPY/g

58,10

-0,80

-1,36%

Bạch kim giao ngay

USD/ounce

921,96

-0,16

-0,02%

Palladium giao ngay

USD/ounce

985,95

-3,85

-0,39%

Đồng New York

US cent/lb

314,30

+1,15

+0,37%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.943,50

-48,50

-0,69%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.295,00

-174,00

-7,05%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.229,00

-3,50

-0,11%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

21.050,00

-675,00

-3,11%

Ngô

US cent/bushel

387,25

-0,25

-0,06%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

473,75

-0,75

-0,16%

Lúa mạch

US cent/bushel

226,50

-1,25

-0,55%

Gạo thô

USD/cwt

13,16

+0,02

+0,11%

Đậu tương

US cent/bushel

1.030,50

-1,75

-0,17%

Khô đậu tương

USD/tấn

375,40

-0,80

-0,21%

Dầu đậu tương

US cent/lb

31,27

-0,03

-0,10%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

534,20

-1,80

-0,34%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.726,00

-3,00

-0,11%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

118,95

+1,25

+1,06%

Đường thô

US cent/lb

11,40

-0,47

-3,96%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

145,95

+2,90

+2,03%

Bông

US cent/lb

84,48

+0,36

+0,43%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

546,70

-1,90

-0,35%

Cao su TOCOM

JPY/kg

188,20

-0,60

-0,32%

Ethanol CME

USD/gallon

1,49

-0,01

-0,60%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg