Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng trong bối cảnh kho dự trữ dầu thô của Mỹ được dự báo đang có xu hướng giảm.
Tại thị trường New York, kết thúc phiên giao dịch ngày 24/10, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 12/2017 tăng 0,57 USD lên 52,47 USD/thùng, trong khi giá dầu Brent giao cùng kỳ hạn cũng tăng 0,96 USD lên 58,33 USD/thùng tại London.
Các nhà phân tích nhận định dự trữ dầu thô của Mỹ ước giảm 2,5 triệu thùng trong tuần trước. Dự trữ xăng và các chế phẩm chưng cất cũng dự kiến giảm ít nhất 1,5 triệu thùng. Các nhà đầu tư đang chờ đợi báo cáo chính thức của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ theo kế hoạch sẽ được công bố vào hôm nay.
Giá dầu đã được hỗ trợ sau khi những bình luận mới đây của Bộ trưởng Năng lượng Saudi Arabia đã làm dấy lên khả năng thỏa thuận cắt giảm sản lượng giữa Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) và một số nhà sản xuất ngoài khối sẽ được kéo dài.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm nhẹ khi các nhà đầu tư đứng ngoài thị trường để chờ đợi thông tin về người sẽ trở thành Chủ tịch tiếp theo của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).
Trên thị trường New York, giá vàng giao kỳ hạn tháng 12/2017 cũng để mất 0,2% và khép phiên ở mức 1.278,3 USD/ounce; vàng giao ngay giảm 0,4% xuống 1.276,73 USD/ounce, trong phiên có lúc giá chạm mức thấp nhất kể từ ngày 6/10 là 1.271,86 USD/ounce trong phiên trước đó. Giá vàng giao ngay đã giảm 6% kể từ khi chạm mức cao nhất trong vòng một năm là 1.357,54 USD/ounce ở phiên 8/9, chủ yếu do đồng USD mạnh lên với nhận định của thị trường rằng Fed sẽ nâng lãi suất thêm một lần nữa vào tháng 12 tới.
Tổng thống Mỹ Donald Trump mới đây đã khẳng định với báo giới rằng ông sẽ sớm đưa ra quyết định về việc ai sẽ trở thành Chủ tịch tiếp theo của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed). Theo ông Phillip Streible, chiến lược gia về thị trường của công ty tư vấn tài chính RJO Futures tại Chicago (Mỹ), vàng sẽ tiếp tục phải chịu sức ép xuống giá nếu một ứng viên cương quyết với đường lối thắt chặt chính sách tiền tệ trở thành người đứng đầu ngân hàng này. Một ứng viên như vậy sẽ ủng hộ tăng lãi suất cao hơn nữa, qua đó thúc đẩy giá trị của đồng USD đi lên trong khi khiến các tài sản được định giá bằng đồng tiền này – trong đó có vàng - trở nên đắt đỏ hơn đối với người mua đang nắm giữ các đồng tiền khác.
Bên cạnh đó, các chuyên gia kinh tế tham gia cuộc khảo sát của hãng tin Reuters nhận định nhiều khả năng Fed sẽ nâng lãi suất vào tháng 12 tới và thêm hai lần nữa trong năm 2018. Tuy nhiên, tỷ lệ lạm phát vẫn ở mức thấp gây lo ngại rằng lộ trình thắt chặt chính sách tiền tệ sẽ chậm lại.
Về những kim loại quý khác, giá bạc cũng giảm 0,6% xuống 16,94 USD/ounce. Trong khi đó, giá bạch kim lại tăng thêm 0,4% lên mức 924,4 USD/ounce.
Với nông sản, giá đường thô giao tháng 3 tăng 0,4 US cent tương đương 14,28 US cent/lb, trong khi đường trắng giao tháng 12 tăng 6,7 USD tương đương 1,8% lên 374,80 USD/tấn.
Giá tăng sau khi số liệu cho thấy các nhà máy đường ở Trung Nam Brazil tăng tỷ lệ mía dùng sản xuất ethanol trong nửa đầu tháng 10.
Cà phê tiếp tục giảm giá, với arabica giao tháng 12 giảm 1,15 US cent tương đương 0,9% xuống 1,232 USD/lb, trong khi robusta giao tháng 1 giảm 23 USD tương đương 1,2% xuống 1,945 USD/tấn.
Đã có mưa ở những vùng cà phê Brazil làm giảm lo ngại về khô hạn.
Rabobank vừa hạ dự báo về mức thiếu hụt cà phê toàn cầu niên vụ 2017/18 xuống 4,9 triệu bao, từ mức 6,1 triệu bao dự báo trước đây, và cho biết vụ 2016/17 dư thừa 1,1 triệu bao chứ kông phải thiếu hụt 200.000 bao.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

52,47

+0,57

+0,99%

Dầu Brent

USD/thùng

58,33

+0,96

+1,80%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

39.200,00

+550,00

+1,42%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,97

-0,02

-0,77%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

170,18

+2,35

+1,40%

Dầu đốt

US cent/gallon

179,70

+0,92

+0,51%

Dầu khí

USD/tấn

525,00

+1,75

+0,33%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

53.800,00

+380,00

+0,71%

Vàng New York

USD/ounce

1.277,10

-3,80

-0,30%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.657,00

-4,00

-0,09%

Bạc New York

USD/ounce

16,96

-0,11

-0,67%

Bạc TOCOM

JPY/g

62,00

-0,30

-0,48%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

921,26

-3,84

-0,42%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

963,90

+4,69

+0,49%

Đồng New York

US cent/lb

319,60

+0,80

+0,25%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

7.004,00

+52,00

+0,75%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.137,00

+1,00

+0,05%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.129,00

+30,00

+0,97%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

19.580,00

+5,00

+0,03%

Ngô

US cent/bushel

350,25

-1,00

-0,28%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

436,50

-0,25

-0,06%

Lúa mạch

US cent/bushel

276,75

+3,25

+1,19%

Gạo thô

USD/cwt

12,07

-0,21

-1,75%

Đậu tương

US cent/bushel

985,00

-6,00

-0,61%

Khô đậu tương

USD/tấn

313,60

-2,30

-0,73%

Dầu đậu tương

US cent/lb

34,50

-0,13

-0,38%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

509,30

-1,60

-0,31%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.085,00

-39,00

-1,84%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

123,55

-0,80

-0,64%

Đường thô

US cent/lb

14,23

+0,35

+2,52%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

151,45

-1,50

-0,98%

Bông

US cent/lb

69,84

+0,12

+0,17%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

432,70

+4,20

+0,98%

Cao su TOCOM

JPY/kg

198,00

-0,30

-0,15%

Ethanol CME

USD/gallon

1,42

+0,01

+0,35%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg

 

 

 

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

52,47

+0,57

+0,99%

Dầu Brent

USD/thùng

58,33

+0,96

+1,80%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

39.200,00

+550,00

+1,42%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,97

-0,02

-0,77%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

170,18

+2,35

+1,40%

Dầu đốt

US cent/gallon

179,70

+0,92

+0,51%

Dầu khí

USD/tấn

525,00

+1,75

+0,33%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

53.800,00

+380,00

+0,71%

Vàng New York

USD/ounce

1.277,10

-3,80

-0,30%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.657,00

-4,00

-0,09%

Bạc New York

USD/ounce

16,96

-0,11

-0,67%

Bạc TOCOM

JPY/g

62,00

-0,30

-0,48%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

921,26

-3,84

-0,42%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

963,90

+4,69

+0,49%

Đồng New York

US cent/lb

319,60

+0,80

+0,25%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

7.004,00

+52,00

+0,75%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.137,00

+1,00

+0,05%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.129,00

+30,00

+0,97%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

19.580,00

+5,00

+0,03%

Ngô

US cent/bushel

350,25

-1,00

-0,28%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

436,50

-0,25

-0,06%

Lúa mạch

US cent/bushel

276,75

+3,25

+1,19%

Gạo thô

USD/cwt

12,07

-0,21

-1,75%

Đậu tương

US cent/bushel

985,00

-6,00

-0,61%

Khô đậu tương

USD/tấn

313,60

-2,30

-0,73%

Dầu đậu tương

US cent/lb

34,50

-0,13

-0,38%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

509,30

-1,60

-0,31%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.085,00

-39,00

-1,84%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

123,55

-0,80

-0,64%

Đường thô

US cent/lb

14,23

+0,35

+2,52%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

151,45

-1,50

-0,98%

Bông

US cent/lb

69,84

+0,12

+0,17%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

432,70

+4,20

+0,98%

Cao su TOCOM

JPY/kg

198,00

-0,30

-0,15%

Ethanol CME

USD/gallon

1,42

+0,01

+0,35%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg