Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm trong phiên giao dịch đầu tuần trong bối cảnh Iraq mong muốn "được miễn tham gia" thỏa thuận cắt giảm sản lượng của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) và một mỏ dầu ở nước Anh sắp hoạt động trở lại.
Kết thúc phiên giao dịch, trên thị trường New York, giá dầu thô ngọt nhẹ kỳ hạn giao tháng 12/2016 giảm 33 US cent xuống 50,52 USD/thùng. Trong phiên có lúc giá xuống dưới 50 USD/thùng. Tại London, giá dầu Brent giao cùng kỳ hạn giảm 32 US cent xuống 51,46 USD/thùng. Trước đó, giá dầu Brent có lúc được giao ở mức thấp 50,50 USD/thùng.
Tin tức cho hay mỏ Buzzard ở khu vực Biển Bắc (nước Anh) sẽ bắt đầu hoạt động trở lại vào ngày 25 hoặc 26/10 sau thời gian bảo dưỡng kéo dài một tháng. Mỏ này có sản lượng khai thác khoảng 180.000 thùng dầu mỗi ngày.
Trước đó, ngày 23-10, Bộ trưởng dầu mỏ của Iraq đã tuyên bố nước này nên được miễn trừ khỏi việc cắt giảm sản lượng theo kế hoạch của OPEC, vì Iraq đang bận chiến đấu với lực lượng ISIS. Cũng trong cùng ngày, Nga tiếp tục từ chối việc tham gia kế hoạch giảm sản lượng. Còn theo số liệu từ Baker Hughes, số lượng dàn khoan đang hoạt động tại Mỹ đã gia tăng tuần thứ 8 liên tiếp.
Hiện tại, theo chính phủ Iraq, nước này đang sản xuất hơn 4,7 triệu thùng/ngày, và phản đối kế hoạch của OPEC là giảm sản lượng xuống dưới 4,2 triệu thùng. Hiện tại, chỉ có 3 nước là Iran, Nigeria, Libya được miễn trừ việc cắt giảm sản lượng. Ông Jens Naervig Pedersen, nhà phân tích của Danske Bank A/S (Đan Mạch), nhận định: “Việc Iraq được yêu cầu miễn trừ cho thấy khả năng của OPEC trong việc ổn định giá dầu là không được bảo đảm. Cùng lúc đó, việc các nhà sản xuất dầu đá phiến ở Mỹ gia tăng hoạt động sẽ tạo thêm khó khăn cho OPEC”.
Hiện tại, Nga vẫn đang thảo luận với OPEC và xem xét nhiều kịch bản khác nhau, theo thông tin từ bộ trưởng năng lượng Nga Alexander Novak, sau cuộc họp với những người đồng cấp tại Riyadh. Bộ trưởng dầu mỏ Iran cũng cho biết ông đang hy vọng Nga sẽ chịu hợp tác với OPEC. Thứ trưởng của bộ này cũng ủng hộ kế hoạch của OPEC, với kỳ vọng giá dầu sẽ đạt 55-60 USD/thùng trước cuối năm 2017.
Trong tháng 9, theo số liệu từ Bloomberg, các nước OPEC đã sản xuất một lượng kỷ lục là 33,75 triệu thùng/ngày, trong đó Ả Rập Saudi đóng góp 10,58 triệu. Cũng trong cùng tháng, lượng dầu mà Trung Quốc nhập từ Nga đã giảm 2,1% so với cùng kỳ năm ngoái, xuống còn 3,96 triệu tấn, theo số liệu từ Tổng cục Hải quan Trung Quốc.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng cũng giảm do USD tăng lên mức cao kỷ lục 9 tháng sau đồn đoán Cục Dự trữ Liên bang Mỹ sẽ nâng lãi suất vào tháng 12 tới.
Giá vàng giảm 0,2% xuống 1.263,96 USD/ounce, trong khi vàng kỳ hạn giao tháng 12 giảm 0,3% xuống 1.263,70 USD/ounce.
Tuy nhiên, nhu cầu giao ngay từ các nước tiêu thụ chính ở châu Á mạnh và sự thiếu chắc chắn về cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ sẽ diễn ra vào ngày 8/11 tới sẽ hỗ trợ giá vàng trong những tuần tới.
Theo các số liệu sơ bộ từ Markit hôm 24-10, hoạt động sản xuất tại Mỹ trong tháng 10 đã đạt mức cao nhất trong vòng 1 năm nay. Ông Shinichiro Kadota, chiến lược gia của Barclays Securities bình luận: “Số liệu về tình hình sản xuất tại Mỹ làm tăng lãi suất trái phiếu nước này và củng cố giá trị đồng USD”.
Cũng trong cùng hôm 24-10, Chủ tịch Chicago Fed là Charles Evans cho biết Fed có thể tăng lãi suất 3 lần trong giai đoạn từ nay cho tới cuối năm 2017, miễn là các kỳ vọng về lạm phát và tình hình thị trường lao động tiếp tục được cải thiện.
Các bình luận của ông Evans có nhiều tương đồng với chủ tịch John Williams của San Francisco Fed và chủ tịch William Dudley của New York Fed hôm 19-10.
Tỷ giá USD/EUR hiện là 1,087 USD = 1 EUR, sụt giảm đôi chút so với mức 1,0859 hôm thứ Sáu tuần rồi, vốn đã là mức thấp nhất trong 7 tháng qua. Tỷ giá USD/JPY hiện là 1 USD = 104,37 yen, cũng giảm đôi chút so với mức 104,635 hồi đầu tháng 10 này.
Ngoài các cuộc họp chính sách tuần tới của Fed và Ngân hàng Trung ương Nhật (BOJ), nhiều nhà đầu tư cũng đang chăm chú theo dõi tình hình bầu cử tổng thống Mỹ, sắp diễn ra vào ngày 8-11 này. Giới đầu tư đang dự kiến chiến thắng sẽ thuộc về bà Hillary Clinton thay vì ông Donald Trump, vốn có quan điểm bảo hộ được cho là gây nhiều rủi ro lên kinh tế toàn cầu.
Với những kim loại quý khác, giá bạc tăng 0,3% lên 17,53 USD/ounce, bạch kim tăng 0,5% lên 933,8 USD/ounce (phiên trước đó giảm xuống mức thấp nhất kể từ 921,20 USD – mức thấp nhất kể từ 29/2), palađi tăng 1,1% lên 630,80 USD (phiên trước đó xuống thấp nhất hơn 3 tháng là 613,10 USD/ounce).
Trên thị trường nông sản, đường thô tăng giá, cà phê robusta cao kỷ lục 2 năm.
Giá đường thô trên sàn New York tăng mạnh nhất 2 tuần rưỡi do mưa làm chậm lại vụ thu hoạch ở Brazil.
Cà phê robusta kỳ hạn giao tháng 1 trên sàn London tăng 8 USD hay 0,37% lên 2.161 USD/tấn, cà phê arabica kỳ hạn tháng 12 tăng 1,8% lên 1.579 USD/lb.

Giá hàng hóa thế giới

 

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

50,52

-0,33

-0,24%

Dầu Brent

USD/thùng

51,46

-0,32

-0,31%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

32.960,00

+50,00

+0,15%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,84

+0,01

+0,25%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

149,88

-0,50

-0,33%

Dầu đốt

US cent/gallon

157,79

-0,19

-0,12%

Dầu khí

USD/tấn

467,75

+2,50

+0,54%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

43.040,00

-110,00

-0,25%

Vàng New York

USD/ounce

1.265,10

+1,40

+0,11%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.232,00

+21,00

+0,50%

Bạc New York

USD/ounce

17,61

+0,01

+0,03%

Bạc TOCOM

JPY/g

58,70

+0,30

+0,51%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

945,90

+5,35

+0,57%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

637,07

+3,37

+0,53%

Đồng New York

US cent/lb

210,25

+0,95

+0,45%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

4.638,00

+3,00

+0,06%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

1.630,50

+5,50

+0,34%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.312,00

+50,50

+2,23%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

19.975,00

+50,00

+0,25%

Ngô

US cent/bushel

348,25

0,00

0,00%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

401,50

-1,00

-0,25%

Lúa mạch

US cent/bushel

213,25

0,00

0,00%

Gạo thô

USD/cwt

9,89

+0,04

+0,36%

Đậu tương

US cent/bushel

1.001,75

-0,50

-0,05%

Khô đậu tương

USD/tấn

307,10

-0,20

-0,07%

Dầu đậu tương

US cent/lb

36,02

+0,03

+0,08%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

515,00

+0,90

+0,18%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.627,00

-15,00

-0,57%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

157,90

+1,80

+1,15%

Đường thô

US cent/lb

23,20

+0,49

+2,16%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

205,10

+6,45

+3,25%

Bông

US cent/lb

68,89

+0,12

+0,17%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

319,60

-0,60

-0,19%

Cao su TOCOM

JPY/kg

182,40

+3,80

+2,13%

Ethanol CME

USD/gallon

1,54

0,00

-0,19%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg