Trên thị trường năng lượng, giá dầu thô diễn biến thất thường khi nhà đầu tư tập trung chú ý vào khả năng Mỹ áp đặt các biện pháp trừng phạt lên lĩnh vực dầu mỏ của Venezuela và dự trữ dầu thô của Mỹ tăng mạnh.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 3/2019 tăng 51 US cent lên 53,13 USD/thùng, dầu Brent giao cùng kỳ hạn giảm 5 US cent xuống 61,09 USD/thùng.
Các nhà đầu tư đang theo dõi sát sao việc Mỹ đe dọa trừng phạt Venezuela, động thái có thể khiến thị trường dầu mỏ thắt chặt hơn. Washington đã công nhận lãnh đạo phe đối lập tại Venezuela Juan Guaido là "Tổng thống lâm thời" của nước này.
Tuy nhiên, thị trường dầu vẫn chịu áp lực bởi báo cáo ngày 24/1/2019 của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ cho thấy dự trữ dầu thô của nước này tăng 8 triệu thùng trong tuần kết thúc ngày 18/1/2019. Ở mức 445 triệu thùng, dự trữ dầu thô của Mỹ vượt 9% so với mức trung bình 5 năm cho thời điểm này của năm.
Hai trong số các nhà giao dịch hàng hóa lớn nhất thế giới, Glencore và Tập đoàn năng lượng Mercuria dự đoán nhiều biến động giá dầu trong những tháng tới, do lo ngại về nguồn cung từ Venezuela và Iran.
Giá khí gas tự nhiên tại Mỹ tăng 4% trong phiên giao dịch biến động, sau dự báo thời tiết cho thấy rằng, nhiệt độ trong 2 tuần tới sẽ lạnh hơn so với dự báo trước đó.
Giá khí gas kỳ hạn tháng 2/2019 trên sàn New York tăng 11,9 US cent tương đương 4% lên 3,099 USD/mBTU.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng ít biến động do nhà đầu tư lo ngại về những bất ổn xung quanh chính phủ Mỹ đóng cửa và quan hệ thương mại với Trung Quốc. Tuy nhiên, đồng USD mạnh lên ngăn giá vàng tăng.
Vàng giao ngay giảm nhẹ 0,1% xuống 1.280,2 USD/ounce sau khi đã chạm mức 1.276,59 USD/ounce trong đầu phiên giao dịch; vàng giao sau giảm 0,3% xuống 1.279,8 USD/ounce.
Một trong những sự kiện mà giới đầu tư đang theo dõi sát sao là việc Chính phủ liên bang Mỹ đóng cửa một phần đã kéo dài sang tháng thứ hai. Cố vấn kinh tế Nhà Trắng Kevin Hassett cho biết trong một cuộc phỏng vấn với hãng tin CNN rằng nền kinh tế Mỹ có thể tăng trưởng 0% trong ba tháng đầu tiên của năm 2019 nếu việc chính phủ đóng cửa một phần kéo dài hết quý I năm nay.
Chiến lược gia hàng hóa cao cấp, Josh Graves thuộc RJO Futures, Chicago cho biết: "Vàng được hỗ trợ bởi nhiều yếu tố như chính phủ Mỹ đóng cửa và thị trường chứng khoán gần đây biến động".
Trong khi đó, nhà đầu tư cũng đang chú ý đến các động thái của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB). Ngân hàng này dự kiến sẽ giữ nguyên chính sách tiền tệ tại cuộc họp ngày 24/1 này. Giới quan sát hy vọng ECB sẽ thừa nhận các mối đe dọa ngày càng gia tăng đối với nền kinh tế Khu vực sử dụng đồng euro (Eurozone).
Về những kim loại quý khác, palađi giảm 2,1% xuống 1.318,5 USD/ounce, mức giảm mạnh nhất kể từ ngày 21/12/2018; bạc gảm 0,5% xuống 15,28 USD/ounce, trong khi bạch kim tăng 0,3% lên 796,50.
Tờ Financial Times đưa tin Nhà Trắng từ chối một cuộc họp thương mại với phía Trung Quốc. Cụ thể, các quan chức của Văn phòng đại diện Thương mại Mỹ đã lên kế hoạch về cuộc gặp gỡ với 2 thứ trưởng Trung Quốc trong tuần này để cố gắng giải quyết những bất đồng thương mại. Tuy nhiên, cuộc họp đã bị hủy bỏ ngay phút chót.
Cùng với đó, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã hạ dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu từ 3,7% của tháng 10 năm ngoái xuống còn 3,5% trong năm nay và 3,6% trong năm 2020.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá nhôm giảm khỏi mức cao nhất 4 tuần trong phiên trước đó, do lo ngại ảnh hưởng của suy thoái kinh tế Trung Quốc áp đảo các dấu hiệu nguồn cung thắt chặt.
Giá nhôm kỳ hạn trên sàn London giảm 1% xuống 1.890,5 USD/tấn, do lo ngại nhu cầu kim loại tại nước tiêu thụ hàng đầu – Trung Quốc – sẽ giảm, mặc dù dự trữ nhôm tại LME giảm xuống 848.650 tấn so với mức hơn 1 triệu tấn tuần trước đó.
Giá quặng sắt tại Trung Quốc tăng cùng với giá thép, khi các nhà đầu tư lấy lại niềm tin sau khi các quan chức cấp cao Trung Quốc đảm bảo triển vọng kinh tế năm 2019.
Giá quặng sắt kỳ hạn trên sàn Đại Liên tăng 1,6% lên 535,5 CNY (78,9 USD)/tấn, được thúc đẩy bởi nhu cầu bổ sung dự trữ tại các nhà máy thép trước kỳ nghỉ Tết Nguyên đán vào tháng tới. Đồng thời, giá thép cây trên sàn Thượng Hải và thép cuộn cán nóng cả hai đều tăng 1% lên 3.680 CNY/tấn và 3.590 CNY/tấn theo thứ tự lần lượt.
Phó Chủ tịch Trung Quốc Vương Kỳ Sơn cho biết tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos rằng, nền kinh tế Trung Quốc có thể duy trì tốc độ tăng trưởng bền vững bất chấp những bất ổn toàn cầu.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê tăng do hoạt động mua vào tăng mạnh trong khi nguồn cung tại khu vực Trung Mỹ khan hiếm và lo ngại thời tiết xấu tại Brazil Giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 3/2019 tăng 1,9 US cent tương đương 1,84% lên 1,053 USD/lb và giá cà phê robusta giao cùng kỳ hạn tăng 25 USD tương đương 1,6% lên 1.548 USD/tấn.
Giá đường thô kỳ hạn tháng 3/2019 tăng 0,01 US cent tương đương 0,08% lên 12,98 US cent/lb và giá đường trắng giao cùng kỳ hạn tăng 0,5 USD tương đương 0,14% lên 351,2 USD/tấn.
Giá lúa mì giảm do hoạt động bán ra chốt lời sau khi tăng lên mức cao nhất kể từ ngày 19/12/2018 (5,29 USD/bushel). Giá lúa mì kỳ hạn tháng 3/2019 trên sàn Chicago giảm 4-1/2 US cent xuống 5,21-1/2 USD/bushel.
Giá dầu cọ trung bình dự kiến sẽ tăng trong năm nay, được thúc đẩy bởi tăng trưởng sản lượng tại nước sản xuất hàng đầu – Indonesia – chậm lại, trong khi nhu cầu đối với hàng hóa được sử dụng để sản xuất các sản phẩm từ chocola đến nhiên liệu sinh học tăng mạnh. Giá dầu cọ sẽ ở mức trung bình 2.375 ringgit (574,09 USD)/tấn trong năm 2019, tăng 3% so với 2.308 ringgit/tấn năm 2018.
Dự kiến, sản lượng dầu cọ Indonesia năm 2019 sẽ đạt 43 triệu tấn, tăng nhẹ so với ước tính 42 triệu tấn năm 2018 của Hiệp hội Dầu cọ Indonesia, song đánh dấu mức tăng trưởng chậm hơn so với bước nhảy vọt của năm 2018 từ mức 36,5 triệu tấn năm 2017. Sản lượng dầu cọ Malaysia sẽ tăng lên 20 triệu tấn năm 2019 và sản lượng sẽ đạt mức cao đỉnh điểm giai đoạn giữa tháng 10 và tháng 11. Sản lượng năm 2019 chỉ tăng nhẹ so với mức 19,5 triệu tấn năm 2018 do các yếu tố như cây trồng lâu năm. Indonesia và Malaysia chiếm gần 90% sản lượng dầu cọ toàn cầu.
Giá cao su tại Tokyo giảm trở lại, do giá dầu suy yếu trong phiên liền trước trong bối cảnh lo ngại tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm lại gây áp lực lên tâm lý thị trường.
Giá cao su kỳ hạn tháng 6/2019 trên sàn TOCOM giảm 2,4 JPY tương đương 1,3% xuống 181,3 JPY (1,65 USD)/kg và giá cao su TSR20 kỳ hạn tháng 7/2019 trên sàn TOCOM giảm 0,8% xuống 152,4 JPY/kg. Trong khi đó, giá cao su kỳ hạn trên sàn Thượng Hải kết thúc duy trì vững ở mức 11.610 CNY (1.710 USD)/tấn.
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

53,13

+0,51

Dầu Brent

USD/thùng

61,09

-0,05

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

40.780,00

+310,00

+0,77%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,17

+0,07

+2,19%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

138,76

0,00

0,00%

Dầu đốt

US cent/gallon

188,56

0,00

0,00%

Dầu khí

USD/tấn

567,75

0,00

0,00%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

57.150,00

+220,00

+0,39%

Vàng New York

USD/ounce

1.285,40

-0,50

-0,04%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.506,00

-4,00

-0,09%

Bạc New York

USD/ounce

15,30

0,00

0,00%

Bạc TOCOM

JPY/g

54,00

+0,20

+0,37%

Bạch kim

USD/ounce

802,49

-0,74

-0,09%

Palađi

USD/ounce

1.322,88

-1,30

-0,10%

Đồng New York

US cent/lb

264,85

+0,40

+0,15%

Đồng LME

USD/tấn

5.922,00

-29,50

-0,50%

Nhôm LME

USD/tấn

1.890,50

-18,50

-0,97%

Kẽm LME

USD/tấn

2.640,00

+20,00

+0,76%

Thiếc LME

USD/tấn

20.925,00

+225,00

+1,09%

Ngô

US cent/bushel

377,00

0,00

0,00%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

520,50

-1,00

-0,19%

Lúa mạch

US cent/bushel

292,00

+1,25

+0,43%

Gạo thô

USD/cwt

10,67

0,00

-0,05%

Đậu tương

US cent/bushel

915,00

-1,00

-0,11%

Khô đậu tương

USD/tấn

311,80

-0,50

-0,16%

Dầu đậu tương

US cent/lb

29,48

-0,03

-0,10%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

486,30

-0,70

-0,14%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.256,00

+11,00

+0,49%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

105,30

+1,90

+1,84%

Đường thô

US cent/lb

12,98

+0,01

+0,08%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

119,15

+1,25

+1,06%

Bông

US cent/lb

73,14

-0,38

-0,52%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

381,10

+15,00

+4,10%

Cao su TOCOM

JPY/kg

183,00

+1,70

+0,94%

Ethanol CME

USD/gallon

1,26

-0,01

-0,71%

Nguồn: VITIC/Bloomberg. Reuters. CafeF