Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm sau thông tin dự trữ dầu thô của Mỹ tuần qua tăng mạnh.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) giao tháng 6/2019 giảm 0,31 USD xuống còn 63,60 USD/thùng, trong khi đó dầu Brent Biển Bắc giao tháng 6/2019 giảm 0,62 USD xuống còn 72,18 USD/thùng.
Theo báo cáo hàng tuần của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), trong tuần kết thúc vào ngày 26/4/2019, lượng dầu thô thương mại dự trữ của Mỹ đã tăng 9,9 triệu thùng so với tuần trước đó. Như vậy, với 470,6 triệu thùng, lượng dầu thô dự trữ của Mỹ đã ở mức trung bình trong 5 năm vào thời gian này hàng năm. Sản lượng dầu thô tại Mỹ, quốc gia sản xuất hàng đầu thế giới, tăng lên kỷ lục 12,3 triệu thùng/ngày trong tuần trước.
Tuy nhiên, các nhà đầu tư tiếp theo theo dõi sát sao diễn biến tình hình an ninh - trật tự xã hội ở Venezuela, điều đã khiến những quan ngại gia tăng về nguy cơ tác động bất lợi tới hoạt động xuất khẩu dầu thô của Venezuela và thu hẹp nguồn cung “vàng đen” thế giới, sau các biện pháp trừng phạt trước đó của Mỹ đối với nước này.
Giá dầu thô đã tăng hơn 30% từ đầu năm tới nay được hỗ trợ chủ yếu bởi thỏa thuận cắt giảm sản lượng của OPEC+ kéo dài trong 6 tháng. Trong tháng 4/2019 dầu Brent tăng khoảng 6,5% và WTI tăng 6,3%, tăng tháng thứ 4 liên tiếp.
Trong khi Washington yêu cầu OPEC tăng sản lượng đề bù cho lượng thiếu hụt từ Iran, thì Saudi Arabia cho biết họ không có dự định thực hiện ngay kế hoạch đó và hiệp ước này có thể gia hạn tới cuối năm 2019.
Thị trường cũng đang theo dõi sát tình hình tại Venezuela, nơi hàng ngàn người tuần hành tập hợp theo lời kêu gọi của lãnh đạo đối lập nổi dậy vào ngày 1/5 chống lại Tổng thống Nicolas Maduro. Các nhà quan sát lo sợ người biểu tình có thể dẫn tới bạo lực leo thang và làm gián đoạn nguồn cung dầu thô, mặc dù khu vực sản xuất dầu của quốc gia này nằm xa thủ đô Caracas. Cuộc khủng hoảng chính trị gia tăng tại Venezuela đã đe dọa xuất khẩu vốn đã giảm bởi các lệnh trừng phạt của Mỹ và ngày 1/5/2019 là thời hạn chót để các nước được miễn trừ dừng nhập khẩu dầu từ Iran, đã hỗ trợ thị trường dầu mỏ.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm xuống mức thấp nhất trong vòng hơn 1 tuần giữa bối cảnh đồng USD mạnh lên. Cuối phiên giao dịch, giá vàng giao ngay giảm 0,6% xuống 1.276,36 USD/ounce, sau khi có lúc xuống mức thấp nhất là 1.272,24 USD/ounce trong phiên; vàng giao sau giảm 0,1% xuống 1.284,20 USD/ounce.
Ngân hàng trung ương Mỹ giữ lãi suất ổn định và báo hiệu ít có khả năng sớm điều chỉnh, với việc làm tăng, tăng trưởng kinh tế và khả năng lạm phát sẽ tăng lên.
Giới quan sát cho rằng việc Fed giữ nguyên tỷ lệ lãi suất và ít có dấu hiệu điều chỉnh tỷ lệ trong thời gian tới sẽ giúp tăng thêm việc làm, thúc đẩy đà tăng trưởng kinh tế và khả năng lạm phát thấp sẽ tăng cao.
Sau thông báo của Fed, đồng USD phục hồi tăng mạnh trở lại sau khi sụt giảm liên tiếp trong ba phiên trước đó. Đồng USD mạnh lên sẽ làm vàng trở nên đắt đỏ hơn đối với các nhà đầu tư sở hữu đồng tiền khác.
Cùng ngày, theo tờ Politico, Mỹ và Trung Quốc đang gần tiến tới việc đạt được một thỏa thuận thương mại sau khi Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin cho hay hai nước đã hoàn tất các cuộc đàm phán “có ích” tại Bắc Kinh.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giảm xuống mức thấp nhất trong 4 tháng qua là 14,57 USD/ounce và giá bạch kim cũng giảm 2,8%, xuống 861,50 USD/ounce - mức thấp nhất trong gần một tháng. Trong khi đó, giá palađi giảm 2,8%, xuống 1.349,50 USD/ounce sau khi có lúc giảm xuống 1.309,67 USD/ounce - mức thấp nhất kể từ ngày 25/1.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá nhôm và chì giảm xuống thấp nhất trong hơn 2 năm do các quỹ bán ra trong bối cảnh lo ngại về nhu cầu tại Trung Quốc nước tiêu thụ kim loại hàng đầu thế giới.
Nhôm LME chạm 1.784,8 USD/tấn, thấp nhất kể từ tháng 1/2017 trước khi phục hồi và đóng cửa tăng 1% lên 1.815 USD/tấn. Dự trữ nhôm tại LME tăng lên 776.675 tấn, mức cao nhất kể từ tháng 1/2019, tăng lần thứ 5 liên tiếp trong tuần qua.
Giá chì trên sàn giao dịch kim loại London giảm 3,7% xuống 1.852 USD/tấn, thấp nhất kể từ tháng 8/2016 và là ngày giảm giá mạnh nhất kể từ tháng 8/2018. Từ đầu năm tới nay, chì là kim loại mất giá nhiều nhất khoảng 8%.
Giá đồng trên sàn giao dịch kim loại London giảm 2,8% đóng cửa tại 6.235 USD/tấn, thấp nhất kể từ 18/2/2019. Dự trữ đồng tại kho LME giảm 8.825 tấn so với hôm trước xuống 173.575 tấn. Điều này gây chênh lệch giữa giá đồng giao ngay với giá giao sau 3 tháng tăng lên 11,75 USD, mức cao nhất trong hơn một tháng bất chấp tồn kho tăng.
Các nhà phân tích cho biết trong khi nhà đầu tư vui mừng với những dấu hiệu tiến triển trong các cuộc đàm phán thương mại Mỹ - Trung thì lo lắng vẫn còn bởi tăng trưởng sản xuất của Trung Quốc bất ngờ chậm lại trong tháng 4/2019.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê robusta giảm xuống mức thấp nhất trong vòng 3 năm trong bối cảnh nguồn cung dồi dào và các thị trường hàng hóa suy yếu.
Cà phê arabica kỳ hạn tháng 7/2019 đóng cửa giảm 2,05 US cent hay 2,2% xuống 91,1 US cent/lb sau khi giảm xuống 90,85 US cent, thấp nhất trong gần 2 tuần. Cà phê robusta kỳ hạn tháng 7/2019 đóng cửa giảm 31 USD hay 2,2% xuống 1.376 USD/tấn sau khi giảm xuống 1.365 USD, thấp nhất kể từ tháng 2/2016.
Triển vọng vụ thu hoạch lớn khác tại Brazil trong năm nay tiếp tục khiến thị trường ở thế phòng thủ.
Jack Scoville, phó chủ tịch tại Price Futures Group cho biết giá tiếp tục bị áp lực bởi một vụ mùa lớn ở Việt Nam. Theo Tổ chức Cà phê Quốc tế xuất khẩu cà phê toàn cầu trong tháng 3/2019 giảm 3,8% xuống 10,98 triệu bao.
Giá đường thô trên sàn ICE giảm xuống mức thấp nhất trong khoảng 4 tháng, áp lực bởi giá năng lượng suy yếu. Đường thô kỳ hạn tháng 7/2019 giảm 0,13 US cent hay 1,1% đóng cửa tại 12,21 US cent/lb sau khi giảm xuống mức 12,10 US cent, thấp nhất kể từ ngày 4/1/2019. Đường trắng kỳ hạn tháng 8/2019 trên sàn ICE đóng cửa giảm 3,2 USD hay 1,0% xuống 331,7 USD/tấn.
Giá dầu thô thoái lui trong vài ngày qua cũng bổ sung áp lực giảm với giá đường. Giá dầu thấp không khuyến khích các nhà máy mía sản xuất ethanol sinh học, thay vào đó khuyến khích sản xuất đường.
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

63,60

-0,31

 

Dầu Brent

USD/thùng

72,18

-0,62

 

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

47.060,00

-1.390,00

-2,87%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,61

-0,01

-0,31%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

206,33

-0,09

-0,04%

Dầu đốt

US cent/gallon

209,47

+0,05

+0,02%

Dầu khí

USD/tấn

643,25

+5,50

+0,86%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

64.460,00

-1.660,00

-2,51%

Vàng New York

USD/ounce

1.276,70

-7,50

-0,58%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.612,00

+22,00

+0,48%

Bạc New York

USD/ounce

14,69

-0,04

-0,26%

Bạc TOCOM

JPY/g

54,20

+0,20

+0,37%

Bạch kim

USD/ounce

868,36

+1,83

+0,21%

Palađi

USD/ounce

1.350,49

-1,93

-0,14%

Đồng New York

US cent/lb

280,25

+0,10

+0,04%

Đồng LME

USD/tấn

6.235,00

-180,00

-2,81%

Nhôm LME

USD/tấn

1.815,00

+18,00

+1,00%

Kẽm LME

USD/tấn

2.771,00

-54,50

-1,93%

Thiếc LME

USD/tấn

19.550,00

-100,00

-0,51%

Ngô

US cent/bushel

368,75

+0,25

+0,07%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

436,25

+0,25

+0,06%

Lúa mạch

US cent/bushel

294,00

-0,75

-0,25%

Gạo thô

USD/cwt

10,56

-0,02

-0,19%

Đậu tương

US cent/bushel

851,25

-0,50

-0,06%

Khô đậu tương

USD/tấn

300,00

-0,30

-0,10%

Dầu đậu tương

US cent/lb

27,70

+0,05

+0,18%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

436,90

+0,50

+0,11%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.315,00

-44,00

-1,87%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

91,10

-2,05

-2,20%

Đường thô

US cent/lb

12,21

-0,13

-1,05%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

95,80

-1,25

-1,29%

Bông

US cent/lb

76,50

-0,21

-0,27%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

338,00

-5,70

-1,66%

Cao su TOCOM

JPY/kg

190,30

+1,00

+0,53%

Ethanol CME

USD/gallon

1,33

+0,00

+0,23%

Nguồn: Bloomberg, Reuters, CafeF