Trên thị trường năng lượng giá dầu biến động trái chiều trong bối cảnh thị trường giảm bớt quan ngại về khả năng xung đột giữa Mỹ và Iran, trong khi nỗi lo về nhu cầu dầu thô sụt giảm đã xuất hiện trở lại.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu Brent Biển Bắc giá 64,86 USD/thùng, giảm 34 US cent (0,5%) so với mức đóng phiên trước đó; giá dầu thô ngọt nhẹ Mỹ (WTI) tăng 47 US cent (0,8%) lên 57,90 USD/thùng.
Trong tuần trước, giá dầu Brent đã tăng 5% và dầu Mỹ tăng 10% sau khi Iran bắn hạ máy bay không người lái của Mỹ hôm 20/6 tại khu vực vùng Vịnh. Vụ việc này càng làm gia tăng căng thẳng giữa Mỹ và Iran sau các vụ tấn công tàu chở dầu cũng tại khu vực trên trong tháng Năm và tháng Sáu.
Tổng thống Mỹ Donald Trump ngày 24/6 đã áp đặt các biện pháp trừng phạt mới đối với Iran, đồng thời khẳng định các biện pháp trừng phạt này sẽ nhằm vào Lãnh tụ tối cao Iran, Đại giáo chủ Ali Khamenei, để đáp trả việc Tehran bắn hạ một máy bay không người lái của Mỹ hồi tuần trước.
Trước đó, ngày 21/6, tờ New York Times đưa tin Tổng thống Mỹ Trump đã thông qua quyết định tấn công quân sự Iran nhằm trả đũa việc Tehran bắn hạ một máy bay không người lái của Mỹ, nhưng sau đó đã rút lại quyết định vào phút chót, qua đó làm hạn chế đà tăng của giá dầu.
Số liệu về hoạt động chế tạo yếu do Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) chi nhánh Dallas công bố ngày 24/6 đã làm gia tăng những lo ngại về nhu cầu dầu thô sụt giảm.
Các chuyên gia phân tích cho hay nguồn cung được dự báo vẫn tương đối thắt chặt giữa bối cảnh Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) và các đồng minh, trong đó có Nga, có khả năng sẽ gia hạn thỏa thuận cắt giảm sản lượng khi nhóm họp vào ngày 1-2/7 tại Vienna.
Bộ trưởng Năng lượng Nga Alexander Novak ngày 24/6 nhận định sự hợp tác quốc tế về sản lượng dầu đã giúp bình ổn các thị trường dầu và điều này quan trọng hơn bao giờ hết. Ông Novak cũng lên tiếng quan ngại về nhu cầu dầu thế giới.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng hơn 1% lên gần mức cao nhất trong 6 năm do USD giảm, đồng thời được hỗ trợ bởi thông báo của Tổng thống Mỹ Donald Trump áp đặt các lệnh trừng phạt mới với Iran.
Chốt phiên giao dịch, giá vàng giao ngay tăng 1,2% lên 1.415,16 USD/ounce, tăng phiên thứ 5 liên tiếp, trong phiên có lúc giá lên tới 1.416,84 USD/ounce cao nhất kể từ cuối tháng 8/2013; vàng giao sau tăng 1,3% đạt 1.418,20 USD/ounce.
Giá vàng đã tăng gần 8% trong tháng này và khoảng 75 USD chỉ trong tuần qua.
Lượng vàng nắm giữ của SPDR Gold Trust, quỹ tín thác vàng lớn nhất thế giới tăng 4,6% trong ngày 21/6, mức tăng một ngày theo dạng phần trăm lớn nhất kể từ tháng 9/2008.
Cục dự trữ liên bang Mỹ và ngân hàng trung ương Châu Âu tuần trước ám chỉ rằng họ sẵn sàng nới lỏng chính sách để đối phó với suy thoái kinh tế thế giới, đã trầm trọng hơn bởi căng thẳng thương mại toàn cầu.
Đồng USD giảm sau khi giảm mạnh nhất một tuần kể từ giữa tháng 2/2019 trong tuần trước do đặt cược Fed sẽ bắt đầu giảm lãi suất vào đầu tháng tới.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá thép xây dựng lên đỉnh gần 8 năm, thép cuộn cán nóng tại Trung Quốc tăng kỷ lục do nhu cầu tiêu thụ tăng mạnh trong khi sản lượng bị hạn chế.
Giá thép thanh giao tháng 10/2019 tại sở giao dịch Thượng Hải tăng 3,9% lên 3.966 nhân dân tệ/tấn (577,22 USD/tấn), mức cao nhất kể từ tháng 8/2011; thép cuộn cán nóng tăng 5,9% lên cao kỷ lục ở 3.928 nhân dân tệ/tấn, theo số liệu của Refinitiv Eikon.
Theo Công ty phân tích dữ liệu Tivlon Technologies, nhu cầu thép tại Trung Quốc tăng rất mạnh. "Chúng tôi lạc quan về biên lợi nhuận của ngành thép trong 10 tuần tới tại Trung Quốc, trong bối cảnh nguồn cung từ một số tỉnh sản xuất bị hạn chế", chuyên gia khoa học dữ liệu Darren Toh tại Tivlon cho biết.
Tuy nhiên, giá vật liệu ngành thép lại diễn biến trái chiều. Giá quặng sắt giao tháng 9 tại Sở giao dịch Đại Liên giảm 3,5% xuống 793,5 nhân dân tệ/tấn, sau khi lên cao kỷ lục vào ngày 20/6.
Nguồn cung quặng sắt tại các cảng giảm vì nhu cầu tăng trong khi hàng nhập khẩu từ Brazil giảm. Theo số liệu của SteelHome, tồn kho quặng tại các cảng giảm xuống 116,75 triệu tấn tính đến cuối tuần trước, giảm 1,95 triệu tấn so với kỳ trước. Tình trạng này được cho là sẽ tiếp tục hỗ trợ giá quặng trong thời gian tới.
Ngoài ra, giá than mỡ giảm 1,6% xuống 1.366,5 nhân dân tệ/tấn. Ngược lại, giá than cốc tăng 2,3% lên 2.121 nhân dân tệ/tấn. Nguồn cung than tại Trung Quốc dự báo giảm vì chính quyền tỉnh Sơn Tây yêu cầu 82 mỏ than trong 5 tháng đầu năm nay hoặc dừng sản xuất hoặc dừng xây dựng vì lo ngại an toàn lao động.
Giá đồng giảm do nghi ngờ kết quả đàm phán thương mại Mỹ - Trung cuối tuần này, làm lu mờ những ảnh hưởng của đồng USD suy yếu và gián đoạn nguồn cung tại Chile.
Đồng giao sau 3 tháng trên sàn giao dịch kim loại London (LME) đóng cửa giảm 0,2% xuống 5.960 USD/tấn từ mức cao nhất một tháng tại 6.027 USD/tấn.
Kim loại này đã phục hồi nhẹ trong những tuần gần đây sau khi giảm 15% từ giữa tháng 4 tới giữa tháng 6/2019 do Tổng thống Mỹ Donald Trump đẩy mạnh tranh chấp với Trung Quốc và Mexico. Các nhà đầu tư lo lắng những cuộc đối đầu thương mại sẽ gây thiệt hại cho tăng trưởng kinh tế và nhu cầu kim loại.
Các nhà đầu tư đang đợi một cuộc gặp giữa Trump và Tập Cận Bình tại hội nghị thượng đỉnh G20 vào ngày 28 – 29/7. Một thỏa thuận thương mại hay ngừng chiến sẽ thúc đẩy giá tăng, trong khi thất bại trong thỏa thuận sẽ kéo giá đồng giảm.
Số liệu vĩ mô mới nhất của Trung Quốc vẫn gây lo ngại cho nhu cầu các hàng hóa trong quý 3/2019 với bất động sản bắt đầu chậm lại và chi tiêu cho cơ sở hạ tầng vẫn yếu. Trung Quốc là nước tiêu thụ kim loại lớn nhất thế giới.
Hoạt động sản xuất của Mỹ hầu như không tăng trưởng trong đầu tháng 6/2019 và lĩnh vực dịch vụ vẫn nguội lạnh.
Đồng USD tiếp tục suy yếu sau khi giảm 1,4% trong tuần trước, khiến các kim loại định giá bằng USD rẻ hơn cho các khách hàng mua bằng đồng tiền khác.
Các công đoàn lao động tại mỏ đồng Chuquicamata lớn ở Chile đã bỏ phiếu trong ngày 22/6 để từ chối một đề nghị và tiếp tục đình công kéo dài một tuần.
Nhập khẩu kim loại phế liệu của Trung Quốc trong tháng 5/2016 tăng 8,6% so với tháng trước đó lên 380.000 tấn, với nhập khẩu nhôm phế liệu ở mức cao nhất kể từ tháng 3/2018.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 9/2019 đóng cửa tăng 2,35 US cent hay 2,3% lên 1,03 USD/lb, sau khi tăng lên trên mức cao nhất 2 tuần tại 1,038 USD. Cà phê robusta chốt phiên tăng 8 USD hay 0,6% lên 1.422 USD/tấn.
Việc mua vào theo yếu tố kỹ thuật tăng tốc do hợp đồng này vượt qua mức kháng cự tại 1,02 USD. Đây là phiên thứ 3 liên tiếp hợp đồng này đóng cửa trên mức trung bình 100 ngày
Các đại lý lưu ý một số yếu tố theo mùa hỗ trợ thị trường, như Brazil là mùa đông, trong khi đồng nội tệ của Brazil mạnh lên cũng trợ giúp.
Đồng real của Brazil ở mức cao nhất so với USD trong khoảng 3 tháng trước khi thoái lui.
Dự trữ cà phê tại các cảng ở Châu Âu tăng 2% trong tháng 4/2019, theo số liệu của Liên đoàn Cà phê Châu Âu.
Giá đường thô trên sàn ICE tăng sau khi giảm xuống mức thấp nhất 2 tuần, với các đại lý tập trung vào hợp đồng kỳ hạn tháng 7/2019 hết hạn cuối tuần này.
Đường thô kỳ hạn tháng 7/2019 đóng cửa tăng 0,05 US cent hay 0,4% lên 12,27 US cent/lb sau khi xuống dưới mức thấp nhất trong hai tuần tại 12,11 US cent.
Các nhà sản xuất Thái Lan đang bán ra cũng hạn chế chiều tăng giá đường trong ngắn hạn.
Nhà đầu cơ giảm mạnh hợp đồng bán ròng đường thô trên sàn giao dịch ICE trong tuần tính tới ngày 18/6 xuống mức thấp nhất kể từ đầu tháng 5/2018.
Đường trắng kỳ hạn tháng 8/2019 đóng cửa giảm 1,6 USD hay 0,5% xuống 323 USD/tấn.
Giá lúa mì của Mỹ tăng gần 2% do cây trồng bị thiệt hại do thời tiết tại một số khu vực sản xuất quan trọng trên thế giới. Lúa mì đỏ mềm vụ đông kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn giao dịch Chicago tăng 11-3/4 US cent lên 5,42-1/2 USD/bushel, trong khi lúa mì đỏ cứng vụ đông tăng 13 US cent lên 4,77-1/2 USD/bushel.
Một số lạc quan rằng các cuộc đàm phán thương mại Mỹ - Trung có thể trở lại đúng hướng cũng củng cố thị trường. Phần lớn thị trường vẫn tập trung vào thời tiết.
Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) trong báo cáo mới đây cho biết nước này đã xuất khẩu 38.400 tấn ngô trong tuần kết thúc vào ngày 13/6, giảm 77% so với tuần trước đó và giảm 90% so với mức trung bình 5 năm trước đó. Trong khi đó, lượng đậu tương xuất khẩu của Mỹ lại tăng đáng kể lên 571.500 tấn, cao hơn 34% so với mức trung bình tại thời điểm này trong năm, theo USDA.
Giá cao su tại Tokyo phiên qua giảm xuống mức thấp nhất trong 2,5 tuần do việc điều chỉnh hợp đồng, nhưng thị trường đang hướng đến cuộc họp giữa Tổng thống Mỹ và Chủ tịch Trung Quốc tại hội nghị thượng đỉnh G20 tuần này.
Hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 11/2019 trên sàn giao dịch hàng hóa Tokyo (TOCOM) đóng cửa giảm 1,8 JPY xuống 198 JPY (1,84 USD)/kg, sau khi xuống mức thấp nhất kể từ ngày 6/6/2019 tại 195,6 JPY trong đầu phiên giao dịch.
Hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 9 trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải giảm 155 CNY đóng cửa tại 11.600 CNY (1.686 USD)/tấn.

Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

57,90

+0,47

+0,8%

Dầu Brent

USD/thùng

64,86

-0,34

-0,5%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

40.470,00

-510,00

-1,24%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,30

0,00

-0,22%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

185,78

+0,29

+0,16%

Dầu đốt

US cent/gallon

190,98

+0,09

+0,05%

Dầu khí

USD/tấn

584,00

+4,25

+0,73%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

57.700,00

-250,00

-0,43%

Vàng New York

USD/ounce

1.428,10

+9,90

+0,70%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.894,00

+56,00

+1,16%

Bạc New York

USD/ounce

15,55

+0,08

+0,54%

Bạc TOCOM

JPY/g

52,90

-0,40

-0,75%

Bạch kim

USD/ounce

815,38

+0,34

+0,04%

Palađi

USD/ounce

1.541,70

+3,31

+0,22%

Đồng New York

US cent/lb

272,10

+1,60

+0,59%

Đồng LME

USD/tấn

5.960,00

-11,00

-0,18%

Nhôm LME

USD/tấn

1.793,00

+25,50

+1,44%

Kẽm LME

USD/tấn

2.491,00

+58,00

+2,38%

Thiếc LME

USD/tấn

19.075,00

+50,00

+0,26%

Ngô

US cent/bushel

460,75

+3,50

+0,77%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

543,50

+1,00

+0,18%

Lúa mạch

US cent/bushel

277,00

+0,50

+0,18%

Gạo thô

USD/cwt

11,51

-0,01

-0,09%

Đậu tương

US cent/bushel

936,25

+3,50

+0,38%

Khô đậu tương

USD/tấn

327,10

+1,00

+0,31%

Dầu đậu tương

US cent/lb

29,02

+0,06

+0,21%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

466,90

+1,80

+0,39%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.487,00

-15,00

-0,60%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

103,00

+2,35

+2,33%

Đường thô

US cent/lb

12,47

-0,01

-0,08%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

103,90

+0,60

+0,58%

Bông

US cent/lb

65,78

+0,09

+0,14%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

392,10

-11,10

-2,75%

Cao su TOCOM

JPY/kg

198,00

0,00

0,00%

Ethanol CME

USD/gallon

1,58

0,00

0,00%

Nguồn: VITIC/Bloomberg, Reuters