Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng trong bối cảnh các nhà đầu tư chờ đợi Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) công bố số liệu dự trữ dầu thô hàng tuần của nước này.
Kết thúc phiên, dầu ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 9/2018 tăng 0,63 USD lên 68,52 USD/thùng; dầu Brent giao cùng kỳ hạn tăng 0,38 USD lên 73,44 USD/thùng.
Theo Viện Dầu mỏ Mỹ, dự trữ dầu thô của Mỹ tuần trước giảm 3,2 triệu thùng. Việc giảm nhiều hơn dự kiến khiến giá tăng sau phiên giao dịch, dầu thô WTI ở mức 68,73 USD/thùng. Theo thăm dò của Reuters dự trữ dầu thô dự báo giảm 2,3 triệu thùng trong tuần trước. Tồn trữ tại Cushing dự kiến giảm tuần thứ 10 liên tiếp.
Những cam kết tăng sản lượng từ Nga và Saudi Arabia cùng với việc bớt gián đoạn nguồn cung tại Libya và nhu cầu giảm của các nhà máy lọc dầu trên toàn cầu tiếp tục gây sức ép lên giá.
Thị trường lo sợ rằng nguồn cung có thể bị gián đoạn bởi cuộc đối đầu tại Trung Đông hay tranh chấp thương mại giữa Washington với các đối tác thương mại chủ chốt có thể giảm nhịp độ tăng trưởng toàn cầu. Iran, nhà sản xuất lớn thứ 3 của OPEC bơm 3,75 triệu thùng/ngày đã chịu áp lực ngày càng tăng từ Mỹ khi chính quyền Tổng thống Donald Trump thúc đẩy các nước cắt giảm toàn bộ nhập khẩu dầu thô của Iran bắt đầu trong tháng 11/2018. Saudi Arabia và các nhà sản xuất lớn khác đang tăng cường sản lượng để bù đắp cho sự thiếu hụt khi thời hạn chót tháng 11/2018 đến gần.
Phil Flynn, nhà phân tích tại Price Futures Group cho biết, các báo cáo Trung Quốc sẽ tăng chi tiêu cho cơ sở hạ tầng giúp dịu đi lo sợ rằng căng thẳng thương mại Mỹ - Trung sẽ làm giảm nhu cầu dầu của nước này.
Bức tranh nhu cầu sẽ vẫn thuận lợi trừ khi sản lượng tăng đáng kể từ Nga và Saudi Arabia vì tăng trưởng toàn cầu mạnh đã dẫn tới dự trữ dầu thô sụt giảm.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng cũng tăng trong bối cảnh đồng USD giảm và các nhà giao dịch đưa ra dự báo về tốc độ tăng trưởng của kinh tế Mỹ trong quý 2/2018.Vàng giao ngay giá tăng 0,13% lên 1.225,70 USD/ounce, vàng giao tháng 8/2018 ở mức 1.225,50 USD/ounce. Chỉ số đồng USD đã giảm 0,2% sau khi chạm mức cao nhất trong một năm trong tuần trước. Hiện nay, các nhà giao dịch trên thị trường phần lớn đều dự báo kinh tế Mỹ sẽ tăng trưởng vượt mức dự kiến (4,1%) trong quý 2/2018. Chiến lược gia Josh Graves, thuộc RJO Futures, nhận định nếu con số chính thức không được như kỳ vọng, giá vàng sẽ được hưởng lợi. Theo kế hoạch, Mỹ sẽ công bố số liệu GDP trong ngày 27/7/2018.
Giá vàng đã giảm 10% kể từ mức đỉnh 1.365,23 USD/ounce đạt được hồi giữa tháng 4/2018, do sự mạnh lên của đồng USD trước tiến trình nâng lãi suất tại Mỹ. Tuần trước, giá kim loại quý này đã rơi xuống mức thấp nhất trong một năm.
Nhà phân tích Carsten Fritsch, thuộc Commerzbank cho rằng vẫn còn quá sớm để đưa ra nhận định giá vàng đã chạm đáy, đồng thời lưu ý cần mất vài tuần để giá kim loại quý này phục hồi từ mức thấp. Về mặt kỹ thuật, vàng đã phá vỡ xuống dưới đường trung bình 200 ngày dựa trên cơ sở hàng tuần. Một dấu hiệu tích cực là lượng vàng nắm giữ của SPDR Gold Trust, quỹ giao dịch vàng lớn nhất thế giới, đã tăng 0,6% lên 802,55 tấn trong ngày 23/7, mức cao nhất trong hơn 2 tuần.
Các nhà phân tích lưu ý, giá vàng thường tăng trong thời điểm bất ổn tài chính và chính trị đã không như vậy, khi phản ứng của các nhà đầu tư im ắng trong tranh chấp giữa Mỹ và Iran. Iran đã bác bỏ cảnh báo giận dữ từ Tổng thống Mỹ Donald Trump rằng Tehran có nguy cơ bị hậu quả nghiêm trọng nếu họ đe dọa chống lại Mỹ.
Những kim loại quý khác tăng giá theo xu hướng thị trường kim loại cơ bản. Bạc tăng 0,8% lên 15,50 USD/ounce, bạch kim tăng 0,4% lên 834,10 USD/ounce và pallađi bổ sung 0,3% lên 917 USD/ounce, trước đó giá đạt 927 USD/ounce mạnh nhất trong một tuần.
Tuy nhiên, đối với bạch kim, kết quả thăm dò mới đây của Reuters cho hay, giá bạch kim trung bình năm 2018 có thể sẽ giảm xuống mức thấp nhất kể từ năm 2005 (922 USD/ounce). Tuy nhiên, năm 2019, đà giảm trên thị trường bạch kim được dự báo sẽ chững lại, có thể tăng nhẹ lên mức 979 USD/ounce.
Reuters cho biết, giá bạch kim giảm với mức kỷ lục từ 1.000 USD/ounce hồi tháng 1 xuống còn khoảng 800 USD/ounce ở thời điểm hiện nay, ghi nhận mức thấp nhất kể từ năm 2008.
Trong dự báo 3 tháng trước đó của các nhà phân tích thị trường tham gia khảo sát tương tự của Reuters, giá bạch kim trung bình được dự đoán sẽ đạt 983 USD trong năm nay và tăng lên mức 1.038 USD vào năm 2019.
Theo Reuters, nhu cầu sử dụng động cơ dầu diesel (loại động cơ cần nhiều bạch kim hơn) đã giảm mạnh sau khi bê bối gian lận khó thải của hãng xe Volkswagen bị phát hiện vào năm 2015.
Trong khi đó, hoạt động khai thác bạch kim tại Nam Phi (nơi cung cấp khoảng 70% sản lượng bạch kim toàn cầu) đang khởi sắc. Do đó, giới đầu cơ bán đã tháo bạch kim trước những lo ngại liên quan đến tình trạng thừa cung và thiếu cầu trong bối cảnh đồng USD lại đang tăng giá.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá nhôm tăng lên mức cao nhất 2 tuần do các quỹ cắt giảm đặt cược về giá giảm với dự đoán các lệnh trừng phạt công ty Rusal đang được dỡ bỏ, thị trường cũng quan tâm tới dự đoán nguồn cung giảm từ Trung Quốc.Nhôm tăng 0,7% lên 2.084,5 USD/tấn sau khi tăng lên 2.114 USD/tấn, mức cao nhất kể từ ngày 10/7/2018.
Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin cho biết "không đưa Rusal rời khỏi kinh doanh" và chính phủ đã bỏ ngỏ khả năng loại bỏ nhà sản xuất nhôm của Nga này ra khỏi danh sách trừng phạt của Mỹ.
Trung Quốc chiếm hơn 55% của nguồn cung nhôm trên toàn cầu đã ước tính năm nay vào khoảng 65 triệu tấn. Một khảo sát gần đây của Reuters cho thấy rằng các nhà phân tích dự đoán thị trường nhôm thiếu hụt 599.000 tấn trong năm nay và 570.000 tấn trong năm 2019.
Các nhà phân tích cho biết Trung Quốc sẽ tiếp tục hạn chế tăng trưởng công suất mới trong tương lai bằng cách cấp hạn ngạch cho dự án mới, chủ yếu tại các tỉnh mạnh về thủy điện như Quảng Tây và Quý Châu hay hoán đổi công suất bằng cách đóng cửa các nhà máy hiện tại".
Tiêu thụ nhôm sử dụng trong ngành đóng gói và vận chuyển được dự kiến tăng 5% trong năm nay và năm tới. Giới phân tích dự kiến tăng trưởng nhu cầu của Trung Quốc vượt tăng trưởng nguồn cung trong năm nay và năm tới. Giá sẽ phải giữ ở mức hiện tại hay tăng do chi phí sản xuất ngày càng tăng, gồm cả điện và nguyên liệu thô bauxit và ôxít nhôm.
Tổng thể các kim loại công nghiệp được thúc đẩy bởi đồng USD của Mỹ giảm giá, khiến các hàng hóa định giá bằng đồng USD rẻ hơn cho người mua bằng các đồng tiền khác, khả năng nhu cầu ngày càng tăng.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica giao tháng 9 giảm 0,7 US cent tương đương 0,6% xuống 1,1095 USD/lb, robusta giao cùng kỳ hạn tăng 7 USD tương đương 0,4% lên 1.693 USD/tấn. Thị trường đang chịu ảnh hưởng bởi đồng real mạnh lên và dự báo sản lượng sẽ của Brazil sẽ tăng.
Đường thô kỳ hạn tháng 10 chốt phiên 24/7 tăng 0,11 US cent hay 1% lên 11,19 US cent/lb. Giá đường trắng kỳ hạn tháng 10 tăng 2,10 USD hay 0,7% lên 326,1 USD/tấn. Các đại lý cho biết lo ngại về thời tiết khô hạn tại khu vực trung tâm phía nam của Brazil đã hỗ trợ giá cùng với đồng real của Brazil mạnh lên không khuyến khích các nhà sản xuất bán ra.
Nhà phân tích Tobin Gorey tại ngân hàng Commonwealth của Australia cho biết "giai đoạn khô hạn này hiện nay đang kéo dài một cách bất thường – không giống như hồi tháng 5 khi những lo ngại lần đầu tiên được nâng lên. Tác động có thể nhiều hơn trong năng suất mía năm tới so với năm nay".
Các đại lý đang đợi một báo từ tổ chức Unica của Brazil về việc sản xuất mía trong nửa dầu tháng 7. Số liệu này được dự kiến đưa ra trong tuần này bao gồm khu vực quan trọng trung tâm phía nam. Một khảo sát của S&P Global Platts cho thấy có khoảng 45,39 triệu tấn mía với sản lượng đường 2,42 triệu tấn.
Giá cao su kỳ hạn tại Tokyo giảm xuống mức thấp nhất trong 22 tháng do lo ngại tranh chấp thương mại Mỹ - Trung leo thang có thể làm giảm tăng trưởng tại Trung Quốc, nước nhập khẩu cao su lớn nhất thế giới.
Một đồng yên mạnh do triển vọng điều chỉnh chính sách của ngân hàng trung ương Nhật Bản cũng gây áp lực cho giá cao su.
Giá cao su kỳ hạn trên sàn giao dịch hàng hóa Tokyo (TOCOM) tiếp tục mất giá trong 4 phiên liên tiếp. Hợp đồng cao su TOCOM kỳ hạn tháng 12 chốt phiên ngày 24/7 giảm 1,7 yên xuống còn 166,3 yên/kg. Đầu phiên giá đã xuống mức thấp nhất kể từ ngày 5/10/2016 tại 166,0 yên/kg.
Hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 9 trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải giảm 85 NDT chốt phiên tại 10.110 NDT (1.487 USD)/tấn sau khi chạm mức thấp nhất 1 tháng tại 10.050 NDT/tấn trong đầu phiên này.
Đồng USD giảm nhẹ so với đồng yên của Nhật Bản do dự đoán ngân hàng trung ương Nhật có thể giảm quy mô kích thích tiền tệ tích cực. Đồng yên tăng giá khiến các tài sản định giá bằng đồng tiền này kém thu hút khi mua bằng đồng tiền khác.

 

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

68,52

+0,63

+1,22%

Dầu Brent

USD/thùng

73,44

+0,38

+0,51%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

49.900,00

+720,00

+1,46%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,74

+0,00

+0,15%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

211,82

+2,26

+1,08%

Dầu đốt

US cent/gallon

214,58

+1,32

+0,62%

Dầu khí

USD/tấn

655,50

-0,25

-0,04%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

67.640,00

+780,00

+1,17%

Vàng New York

USD/ounce

1.235,50

+0,90

+0,07%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.379,00

+21,00

+0,48%

Bạc New York

USD/ounce

15,52

0,00

-0,03%

Bạc TOCOM

JPY/g

55,40

+0,40

+0,73%

Bạch kim giao ngay

USD/ounce

835,45

+2,27

+0,27%

Palladium giao ngay

USD/ounce

915,61

+0,34

+0,04%

Đồng New York

US cent/lb

281,05

0,00

0,00%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.295,00

+165,00

+2,69%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.084,50

+15,50

+0,75%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.616,00

+61,00

+2,39%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

19.675,00

+200,00

+1,03%

Ngô

US cent/bushel

367,25

+1,25

+0,34%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

514,50

+4,25

+0,83%

Lúa mạch

US cent/bushel

236,25

-0,75

-0,32%

Gạo thô

USD/cwt

12,02

-0,04

-0,33%

Đậu tương

US cent/bushel

872,25

-1,00

-0,11%

Khô đậu tương

USD/tấn

326,70

0,00

0,00%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,57

-0,01

-0,03%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

487,70

-2,20

-0,45%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.257,00

-42,00

-1,83%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

110,95

-0,70

-0,63%

Đường thô

US cent/lb

11,19

+0,11

+0,99%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

163,15

-4,70

-2,80%

Bông

US cent/lb

87,20

+0,50

+0,58%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

488,50

+11,20

+2,35%

Cao su TOCOM

JPY/kg

168,50

+2,20

+1,32%

Ethanol CME

USD/gallon

1,42

-0,01

-0,70%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg