Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm bởi số liệu mới nhất cho thấy lượng dầu lưu kho và nguồn cung xăng của Mỹ tuần qua bất ngờ tăng lên mức kỷ lục.
Kết thúc phiên giao dịch, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) kỳ hạn giao tháng 10/2016 trên sàn New York giảm 1,33 USD, tương ứng 2,8%, xuống 46,77 USD/thùng. Giá dầu Brent giao tháng 10/2016 trên sàn London giảm 91 cent, tương đương 1,8%, xuống 49,05 USD/thùng.
Số liệu của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho thấy, lượng dầu lưu kho của Mỹ trong tuần kết thúc vào 19/8 tăng 2,5 triệu thùng, trái với dự đoán giảm nhẹ của các nhà phân tích trong khảo sát Wall Street Journal.
Như vậy, lượng lưu kho dầu thô và sản phẩm lọc dầu thương mại của Mỹ trong tuần kết thúc vào 19/8 tăng 6,6 triệu thùng lên kỷ lục 1,4 tỷ thùng, cho thấy tình trạng thừa cung dầu thô toàn cầu, khiến giá lao dốc trong 2 năm qua, vẫn chưa suy giảm.
Phiên giao dịch trước, giá dầu tăng mạnh sau tin Iran sẵn sàng tham dự phiên họp không chính thức của OPEC vào tháng 9 để bàn về biện pháp phối hợp nhẳm đẩy giá dầu lên. Giá dầu đã tăng hơn 10% trong tháng này chủ yếu nhờ đồn đoán các nước xuất khẩu chủ chốt có thể đạt được thỏa thuận về đóng băng sản lượng. Rất có thể sau đợt tăng này, giới đầu tư sẽ coi việc lượng dầu lưu kho tăng là cái cớ để chốt lời.
Cũng theo số liệu của EIA, sản lượng dầu thô của Mỹ trong tuần qua giảm 49.000 thùng xuống 8,5 triệu thùng/ngày. Các nhà phân tích đang theo dõi ước tính sản lượng để xem liệu đà tăng vừa qua của giá dầu lên trên 50 USD/thùng có khuyến khích các nhà sản xuất của Mỹ tăng sản lượng hay không.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng cũng giảm xuống thấp nhất 4 tuần khi USD tăng, trong bối cảnh thị trường chờ bài phát biểu của Chủ tịch Fed để có thêm manh mối về lãi suất.
Giá vàng giao ngay giảm 1% xuống 1.324,66 USD/ounce. Giá vàng giao tháng 12/2016 trên sàn Comex (New York) giảm 1,2% xuống 1.329,70 USD/ounce, phiên giảm lớn nhất kể từ 5/8.
Chủ tịch Fed Janet Yellen sẽ có bài phát biểu tại cuộc họp thường niên các ngân hàng trung ương tại Jackson Hole, Wyoming, lúc 10h sáng giờ địa phương ngày thứ Sáu 26/8.
Theo số liệu của CME Group, tỷ lệ dự đoán Fed nâng lãi suất vào tháng 9 hiện là 21% và tăng ít nhất một lần trong năm nay là 50%. Ngân hàng trung ương Mỹ sẽ có phiên họp chính sách vào tháng 11 và tháng 12.
Giá vàng đã tăng 25% kể từ đầu năm đến nay khi Fed làm giảm đồn đoán nâng lãi suất và giới đầu tư đổ tiền vào tài sản trú ẩn an toàn.
Trong số các kim loại quý khác, giá bạc giao ngay giảm 1,2% xuống 18,55 USD/ounce, thấp nhất kể từ 30/6; giá bạch kim giảm 1,6% xuống 1.081,40 USD/ounce, thấp nhất kể từ 25/7; và giá palladium giảm 2,8% xuống 676,97 USD/ounce, thấp nhất kể từ 25/7.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê đồng loạt giảm. Robusta trên sàn London giảm 10-12 USD/tấn, đánh dấu phiên giảm thứ 2 liên tiếp, Arabica trên sàn New York giảm 3,15-4,15 cent/lb.
Nhà rang xay cà phê hàng đầu của Mỹ J.M. Smucker lại tỏ ra tự tin rằng nguồn cung cà phê toàn cầu vẫn dồi dào trong thời gian tới nhất là khi sản lượng Arabica vụ mới của Brazil được đưa ra thị trường.
Giá hàng hóa thế giới

 

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

46,77

-1,33

-2,8%

Dầu Brent

USD/thùng

49,05

-0,91

-1,8%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

29.410,00

-270,00

-0,91%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,79

0,00

-0,07%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

149,98

-0,98

-0,65%

Dầu đốt

US cent/gallon

149,55

-0,08

-0,05%

Dầu khí

USD/tấn

435,00

+3,00

+0,69%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

41.870,00

-410,00

-0,97%

Vàng New York

USD/ounce

1.327,40

-2,30

-0,17%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.263,00

-34,00

-0,79%

Bạc New York

USD/ounce

18,47

-0,09

-0,46%

Bạc TOCOM

JPY/g

59,60

-1,10

-1,81%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

1.078,65

-0,69

-0,06%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

684,98

+2,05

+0,30%

Đồng New York

US cent/lb

209,25

+0,75

+0,36%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

4.632,00

-78,00

-1,66%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

1.646,00

-23,00

-1,38%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.276,00

-26,00

-1,13%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

18.850,00

+150,00

+0,80%

Ngô

US cent/bushel

337,00

+0,75

+0,22%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

428,25

+2,00

+0,47%

Lúa mạch

US cent/bushel

185,75

+1,00

+0,54%

Gạo thô

USD/cwt

10,16

+0,07

+0,69%

Đậu tương

US cent/bushel

1.001,00

-4,25

-0,42%

Khô đậu tương

USD/tấn

325,90

-1,00

-0,31%

Dầu đậu tương

US cent/lb

33,98

-0,01

-0,03%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

467,10

-1,70

-0,36%

Cacao Mỹ

USD/tấn

3.017,00

-24,00

-0,79%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

143,10

-4,15

-2,82%

Đường thô

US cent/lb

20,22

-0,51

-2,46%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

187,70

+1,10

+0,59%

Bông

US cent/lb

67,99

+0,20

+0,30%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

336,20

-1,40

-0,41%

Cao su TOCOM

JPY/kg

149,90

-1,80

-1,19%

Ethanol CME

USD/gallon

1,45

-0,01

-0,76%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg