Phiên vừa qua chứng kiến sự biến động mạnh của đồng bạc xanh, và điều này đã tác động tới giá các loại hàng hóa tính theo đồng tiền này. Chỉ số đồng USD - thước đo giá trị đồng USD so với giỏ sáu đồng tiền chủ chốt khác - đã giảm xuống 88,438 (điểm), mức thấp nhất trong 3 năm qua sau khi Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin cho biết nước này hoan nghênh việc đồng USD yếu đi. Tuy nhiên, đồng USD đảo chiều tăng giá sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump nói trong cuộc phỏng vấn với CNBC rằng ông muốn thấy đồng USD mạnh lên.
Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm vào lúc đóng cửa do đồng USD mạnh lên. Kết thúc phiên gia dịch, giá dầu ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 3/2018 trên sàn New York giảm 0,1 USD xuống 65,51 USD/thùng; giá dầu Brent giao cùng kỳ hạn giảm 0,11 USD xuống 70,42 USD/thùng.
Phiên vừa qua có lúc giá dầu WTI vọt lên mức 66,66 USD/thùng, trong khi dầu Brent vượt 71 USD lần đầu tiên kể từ năm 2014 (đạt 71,05 USD/thùng, mức chưa từng có kể từ tháng 12/2014).
So với thời điểm giữa năm ngoái, giá cả 2 loại dầu hiện đã tăng gần 50%.
Đồng USD đang biến động mạnh, tác động lên thị trường hàng hóa.

Về các yếu tố cơ bản, Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ cho hay, dự trữ dầu thô của Mỹ giảm 1,1 triệu thùng trong tuần kết thúc vào ngày 19/1, xuống 411,58 triệu thùng. Đây là mức thấp nhất kể từ năm 2015 và thấp hơn mức trung bình của 5 năm là khoảng 420 triệu thùng.

Như vậy, tồn kho dầu thô của Mỹ đã giảm 10 tuần liên tiếp bất chấp sản lượng của nước này tăng lên 9,9 triệu thùng/ngày (không xa mức cao kỷ lục của Mỹ 10,4 triệu thùng/ngày trong năm 1970).

Chủ tịch công ty tư vấn FACTS Global Energy, Fereidun Fesheraki, cho rằng giá dầu còn có thể tăng mạnh hơn, với dầu Brent có thể lên đến 75 USD/thùng vào tháng Năm tới.

Trên thị trường kim loại quý, giá vàng cũng giảm vào lúc đóng cửa do USD mạnh lên. Vàng giao ngay giảm 0,8% xuống 1.347,39 USD/ounce; vàng giao tháng 2/2018 được giao dịch ở mức 1.362,90 USD/ounce.
Với những kim loại quý khác, giá bạc giảm 1,5% xuống 17,30 USD/ounce vào lúc đóng cửa, sau khi trước đó đã vọt lên 17,70 USD/ounce, mức cao nhất kể từ ngày 15/9/2017. Giá bạch kim cũng giảm 0,2% xuống 1.010,50 USD/ounce, sau khi có lúc tăng lên 1.027,60 USD/ounce, mức cao nhất kể từ tháng 2/2017.
Trên thị trường nông sản, giá đường thô tăng 0,08 US cent tương đương 0,6% lên 13,24 US cent/lb, trong khi đường trắng giao cùng kỳ hạn tăng 2,8 USD tương đương 0,8% lên 353,80 USD/tấn.
Tuy nhiên, giá tăng có thể sẽ không kéo dài. Thời tiết thuận lợi hứa hẹn được mùa mía ở Thái Lan và Ấn Độ có thể sẽ là cơ sở để các tổ chức quốc tế tiếp tục nâng dự báo về mức dư cung đường trên thị trường thế giới.
Trung Quốc, nước nhập khẩu đường lớn nhất thế giới, năm 2017 đã giảm ¼ khối lượng đường nhập khẩu so với năm trước, xuống chỉ 2,29 triệu tấn (giảm 25,2%), xuống mức thấp nhất kể từ 2010. Đây là một trong những cố gắng của chính phủ nước này để bảo vệ người nông dân.
Nhập khẩu đường trong tháng 12 đã giảm 38,7% xuống 130.000 tấn, từ mức 220.000 tấn cùng kỳ năm trước, theo số liệu của Hải quan Trung Quốc. Khối lượng nhập khẩu trong tháng 12 so với tháng 11 giảm 19%.
Trung Quốc năm 2017 đã giảm cấp phép nhập khẩu đường ngoài hạn ngạch xuống 1 triệu tấn, từ mức 1,9 triệu tấn của năm trước đó. Ngoài ra, hộ còn đánh thuế cao đối với đường nhập khẩu, sau khi nông dân và các nhà máy ngành đường nhiều năm liền vận động Chính phủ bảo vệ họ.
Nhưng do thiếu nguyên liệu, các nhà máy tinh luyện đường Trung Quốc cuối năm 2017 cho biết họ đã lên kế hoạch vận động Bắc Kinh nâng khối lượng nhập khẩu đường ngoài hạn ngạch lên.
Cà phê biến động trái chiều giữa 2 sàn giao dịch. Tại New York, arabica giao tháng 3 tăng 1,15 US cent tương đương 0,9% lên 1,2365 USD/lb, trong khi robusta giao cùng kỳ hạn trên sàn London giảm 12 USD tương đương 0,7% xuống 1.763 USD/tấn.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/-(%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

65,51

-0,01

-0,02%

Dầu Brent

USD/thùng

70,42

-0,11

-0,15%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

44.890,00

-110,00

-0,24%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,45

0,00

0,00%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

190,69

-0,85

-0,44%

Dầu đốt

US cent/gallon

210,83

-0,71

-0,34%

Dầu khí

USD/tấn

625,50

-2,25

-0,36%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

59.920,00

-210,00

-0,35%

Vàng New York

USD/ounce

4.751,00

-11,00

-0,23%

Vàng TOCOM

JPY/g

1.352,86

+4,60

+0,34%

Bạc New York

USD/ounce

17,43

-0,18

-1,05%

Bạc TOCOM

JPY/g

60,90

-0,80

-1,30%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

1.018,18

+4,53

+0,45%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

1.098,95

+3,60

+0,33%

Đồng New York

US cent/lb

321,25

-0,40

-0,12%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

7.138,00

-12,00

-0,17%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.241,00

-9,00

-0,40%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.465,00

+25,00

+0,73%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

21.380,00

+290,00

+1,38%

Ngô

US cent/bushel

355,25

0,00

0,00%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

436,75

+2,25

+0,52%

Lúa mạch

US cent/bushel

261,50

+0,50

+0,19%

Gạo thô

USD/cwt

12,17

+0,03

+0,25%

Đậu tương

US cent/bushel

992,75

+0,50

+0,05%

Khô đậu tương

USD/tấn

340,30

-0,10

-0,03%

Dầu đậu tương

US cent/lb

32,62

+0,12

+0,37%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

494,00

-2,00

-0,40%

Cacao Mỹ

USD/tấn

1.960,00

+5,00

+0,26%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

123,65

+1,15

+0,94%

Đường thô

US cent/lb

13,24

+0,08

+0,61%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

149,65

+1,70

+1,15%

Bông

US cent/lb

81,88

-0,39

-0,47%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

478,00

+5,10

+1,08%

Cao su TOCOM

JPY/kg

205,20

+1,50

+0,74%

Ethanol CME

USD/gallon

1,38

+0,00

+0,29%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg