Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm nhẹ sau khi , trong bối cảnh các nhà đầu tư chuẩn bị tâm lý sẽ có thêm 1 triệu thùng dầu mỗi ngày được đưa ra thị trường sau khi OPEC đồng ý nâng sản lượng và do chứng khoán của Mỹ giảm bởi lo ngại về cuộc chiến thương mại..
Kết thúc phiên giao dịch, giá dầu ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 8/2018 giảm 0,5 USD xuống 68,08 USD/thùng; dầu Brent giao tháng 8/2018 cũng giảm 0,82 USD (hay 1,1%) xuống 74,73 USD/thùng.
Chủ tich công ty Blue Line Futures ở Chicago (Mỹ), Bill Baruch, cho biết căng thẳng thương mại và những lo ngại chung về thị trường toàn cầu đã tác động tới thị trường dầu mỏ. Thị trường chứng khoán Mỹ mất đà do tình trạng bán tháo khi căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc ngày càng leo thang.
Tuy nhiên, đà giảm giá của dầu thô ngọt nhẹ Mỹ củng bị hạn chế do tình trạng mất điện tại khu vực Syncrude (Canada), có sản lượng khai thác 360.000 thùng dầu cát mỗi ngày, có thể kéo dài đến hết tháng 7/2018. Điều này dự báo sẽ hạn chế lượng dầu thô chuyển đến Cushing, bang Oklahoma (Mỹ), điểm giao hàng cho các hợp đồng dầu kỳ hạn WTI của Mỹ. Điều này giúp giảm chênh lệch giá giữa dầu thô WTI và dầu thô Brent xuống mức thấp 4,78 USD/thùng. Mức chênh này đã nới rộng lên 11,57 USD/thùng vào ngày 1/6, nhưng bắt đầu giảm trước dự đoán OPEC tăng nguồn cung.
Cuối tuần qua, các nước thành viên OPEC và một số đồng minh, trong đó có Nga, đã đạt được sự đồng thuận về việc tăng sản lượng khoảng 1 triệu thùng/ngày để bình ổn giá. Giám đốc công ty dầu mỏ Aramco của Saudi Arabia cho biết họ có công suất dự phòng 2 triệu thùng/ngày và có thể đáp ứng thêm nhu cầu trong trường hợp gián đoạn nguồn cung. Dù vậy ngân hàng Mỹ Goldman Sachs dự báo thị trường dầu mỏ thế giới vẫn sẽ thiếu cung. Dự báo trên cũng giống như nhận định của Bộ trưởng Năng lượng Mỹ Rick Perry khi cho rằng thỏa thuận tăng sản lượng của các nước thành viên trong và ngoài OPEC là chưa đủ đáp ứng nhu cầu thị trường thế giới.
OPEC bắt đầu hạn chế sản lượng từ đầu năm 2017, tổ chức này cho biết họ sẽ nâng sản lượng bằng cách trở lại mức tuân thủ 100% theo thỏa thuận cắt giảm sản lượng, sau nhiều tháng dưới mức sản lượng, phần lớn do sự gián đoạn diễn ra tại Venezuela và Angola.
Trên thị trường kim loại cơ bản, giá vàng giảm xuống mức thấp nhất gần 6 tháng do nhà đầu tư chuyển sang trái phiếu chính phủ Mỹ giữa lúc những lo ngại về chiến tranh thương mại tăng cao sau báo cáo cho thấy Mỹ có kế hoạch hạn chế các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư vào các công ty công nghệ của Mỹ. Giá vàng giao ngay giảm 0,2% xuống 1.266,29 USD/ounce; vàng giao tháng 8 giảm 1,80 USD (0,1%) xuống 1.268,90 USD/ounce.
Tờ Wall Street Journal ngày 24/6 cho biết Bộ Tài chính Mỹ đang cân nhắc kế hoạch “chặn” các doanh nghiệp có ít nhất 25% vốn sở hữu của Trung Quốc mua lại các công ty “công nghệ quan trọng” của Mỹ. Vàng, vốn được xem là nơi trú ẩn an toàn trong thời kỳ bất ổn địa chính trị, đã không hưởng được lợi do các nhà đầu tư “đổ xô vào” trái phiếu chính phủ. Lợi suất trái phiếu ngắn hạn đã giảm xuống mức thấp nhất trong hơn 10 năm do lo ngại về chiến tranh thương mại và sự phân chia trong Khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) thúc đẩy nhu cầu đối với trái phiếu dài hạn, an toàn.
Lợi suất trái phiếu cao thường khiến vàng kém hấp dẫn hơn do nó là tài sản không sinh lời. Tuy nhiên, một số nhà phân tích cho hay sự căng thẳng thương mại giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới - nhân tố đe dọa cản trở tăng trưởng kinh tế toàn cầu - có thể lại có lợi cho vàng.
Peter Hug, Giám đốc thương mại toàn cầu của Kitco Metals dự báo giá vàng có thể giao dịch trong khoảng 1.265-1.278 USD/ounce.
Về những kim loại quý khác, giá palladium giảm 2% xuống 937,70 USD/ou, trong phiên có lúc giá giảm xuống 936,25 USD/ounce, mức thấp nhất kể từ ngày 10/4. Giá bạc giao ngay giảm 0,8% xuống 16,31 USD/ounce, giá bạch kim để mất 0,7% xuống 867,20 USD/ounce, trong hpiên có lúc chạm mức 851,74 USD/ounce, mức thấp nhất kể từ tháng 2/2016 trong phiên 24/6.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá kẽm giảm tiếp xuống mức thấp nhất trong hơn 10 tháng do tồn kho tăng và các nhà đầu cơ gây áp lực lên thị trường. Kẽm hợp đồng giao sau 3 tháng giảm 2% xuống 2.858 USD/tấn sau khi chạm 2.835 USD/tấn, mức thấp nhất kể từ ngày 7/8/2017. Số liệu hàng ngày cho thấy dự trữ kẽm tại các kho của LME tăng 2.300 tấn lên 241.525 tấn, tăng 83% kể từ đầu tháng 3. Dự trữ tăng ổn định đã phản chiếu giá suy giảm với mức giảm 20% kể từ khi chạm mốc cao nhất hơn một thập kỷ tại 3.595,50 USD/tấn vào ngày 15/2.
Trung Quốc, nước tiêu thụ kim loại hàng đầu thế giới, cho biết, họ sẽ cắt giảm dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng 50 điểm cơ bản để thúc đẩy cho vay đối với các doanh nghiệp nhỏ. Nhu cầu các kim loại công nghiệp của Trung Quốc đang tăng lên và động thái của ngân hàng trung ương Trung Quốc cho thấy sự lo ngại của chính phủ về tăng trưởng.
Giá đồng LME giao sau ba tháng chốt phiên giảm 0,5% xuống 6.755 USD/tấn sau khi chạm mức thấp nhất kể từ đầu tháng 5 tại 6.720 USD/tấn. Hỗ trợ giá đồng là tin tức liên đoàn công nhân tại Salvador của công ty khai thác đồng Codelco, Chile đã không đạt được thỏa thuận tiền lương ban đầu với công ty này.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica giao tháng 9 tăng 0,25 US cent tương đương 0,2% lên 1,172 USD/lb, robusta giao tháng 9 giảm 29 USD tương đương 1,7% xuống 1.676 USD/tấn, không xa so với mức thấp nhất 2 năm là 1.655 USD/tấn hồi tuần trước.
Giá đường thô kỳ hạn trên sàn ICE giảm lần đầu tiên trong 4 phiên, sau khi số liệu cho thấy các nhà đầu cơ tăng cường lập trường giá giảm trong bối cảnh nguồn cung dồi dào. Đường thô kỳ hạn tháng 10 giảm 0,09 US cent hay 0,7% xuống 12,32 US cent/lb. Giá đường trắng kỳ hạn tháng 8 tăng 0,6 USD hay 0,02% lên 345,1 USD/tấn. Tuy nhiên chiều giảm giá bị hạn chế do các nhà đầu tư tiếp tục theo dõi thời tiết khô hạn tại Brazil để xem tác động tới sản lượng trong mùa này cũng như sản lượng trong vụ tới.
Các đại lý cho biết đà kỹ thuật đã suy yếu nhẹ sau khi tăng trong ngày 22/6, khi số liệu của chính phủ Mỹ cho thấy các nhà đầu cơ tăng cường các hợp đồng bán ròng lên mức cao nhất 3 tuần. Thị trường cũng vẫn dự đoán nguồn cung dồi dào sẽ kéo dài sang niên vụ tới, do sản lượng tăng vọt tại Ấn Độ bù cho sự sụt giảm từ Brazil.
Cacao kỳ hạn tháng 9 tại London chốt phiên giảm 5 GBP hay 0,3% xuống 1.809 GBP/tấn, do đầu cơ chậm lại và các nhà sản xuất bán ra tại thị trường London. Giá của hợp đồng kỳ hạn tháng 7 cao hơn kỳ hạn tháng 9 chưa tới 42 GBP (mức chênh trong phiên trước) và được hỗ trợ bởi thiếu cacao chất lượng cao trên thị trường châu Âu. Mưa nhiều gần đây đã giảm bớt đợt nóng trong khu vực này, nhưng các đại lý lưu ý tình trạng đầu mùa đã làm giảm chất lượng cacao. Một đại lý của Mỹ cho biết thị trường cảm thấy một số cacao của Cameroon chất lượng thấp sẽ được xử lý, bổ sung rằng loại cacao này được pha trộn với loại chất lượng cao và gây dự đoán nhu cầu phân phối trong tháng 7.
Cao su kỳ hạn tại Tokyo đóng cửa giảm xuống mức thấp nhất kể từ tháng 10/2016, bởi giá dầu yếu và lo ngại về nguồn cung. Hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 11 trên sàn giao dịch hàng hóa Tokyo (TOCOM) giảm 1,9 yên hay 1,1% xuống 171,5 yên (1,57 USD)/kg. Hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 9 tại Thượng Hải tăng 70 NDT, đóng cửa tại 10.470 NDT (1.603 USD)/tấn. Trong đầu phiên hợp đồng này đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ ngày 7/10/2016 tại 171,0 yên/kg. Cao su kỳ hạn TOCOM đã giảm khoảng 15% trong tháng qua, nhưng có thể vẫn chịu áp lực trong bối cảnh lo sợ về xung đột thương mại toàn cầu do chính quyền Tổng thống Trump gây ra.
Cao su được khai thác quanh năm, nhưng sản lượng mủ giảm trong mùa đông hanh khô khi cây rụng lá. Mùa đông ở Thái Lan và Malaysia kéo dài từ tháng 2 tới tháng 5. Tháng trước Washington đã tiến hành điều tra an ninh quốc gia về nhập khẩu ô tô và xe tải, có thể dẫn tới việc áp thuế mới đối với một trong những sản phẩm xuất khẩu chính của Nhật Bản sang Mỹ. Cuộc chiến thuế quan về ô tô có thể làm chậm lại nhu cầu xe cộ và lốp xe. Một yếu tố khác làm đồng USD giảm xuống mức thấp hai tuần so với đồng yên là do lo ngại mới nhất về thương mại toàn cầu bùng phát.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

68,08

-0,5

-0,61%

Dầu Brent

USD/thùng

74,73

-0,82

-1,1%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

48.030,00

+530,00

+1,12%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,93

+0,01

+0,31%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

205,85

+0,70

+0,34%

Dầu đốt

US cent/gallon

210,94

+0,90

+0,43%

Dầu khí

USD/tấn

646,75

+3,25

+0,51%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

65.840,00

+610,00

+0,94%

Vàng New York

USD/ounce

1.268,50

-0,40

-0,03%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.455,00

+8,00

+0,18%

Bạc New York

USD/ounce

16,42

+0,01

+0,08%

Bạc TOCOM

JPY/g

57,50

0,00

0,00%

Bạch kim giao ngay

USD/ounce

867,53

-0,47

-0,05%

Palladium giao ngay

USD/ounce

943,92

-0,08

-0,01%

Đồng New York

US cent/lb

301,75

+0,80

+0,27%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.755,00

-34,00

-0,50%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.155,00

-20,00

-0,92%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.858,00

-59,00

-2,02%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

20.125,00

-275,00

-1,35%

Ngô

US cent/bushel

359,00

-0,50

-0,14%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

489,75

-0,75

-0,15%

Lúa mạch

US cent/bushel

236,50

+0,50

+0,21%

Gạo thô

USD/cwt

10,79

0,00

-0,05%

Đậu tương

US cent/bushel

896,25

+0,75

+0,08%

Khô đậu tương

USD/tấn

333,80

+0,30

+0,09%

Dầu đậu tương

US cent/lb

29,62

0,00

0,00%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

509,00

-0,70

-0,14%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.480,00

-34,00

-1,35%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

117,20

+0,25

+0,21%

Đường thô

US cent/lb

12,32

-0,09

-0,73%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

160,70

-2,90

-1,77%

Bông

US cent/lb

84,72

-0,20

-0,24%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

546,20

+0,40

+0,07%

Cao su TOCOM

JPY/kg

171,40

-0,10

-0,06%

Ethanol CME

USD/gallon

1,41

-0,02

-1,26%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg