Trên thị trường năng lượng, giá dầu đảo chiều tăng trở lại, có lúc chạm mức cao nhất trong 27 tháng.
Đóng cửa phiên giao dịch, dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 12/2017 tăng 0,46 USD, lên 52,64 USD/thùng, mức cao nhất kể từ tháng Tư. Trong khi đó, giá dầu Brent tại London giao cùng kỳ hạn tăng 0,86 USD lên 59,30 USD/thùng, mức đỉnh tính từ 3/7/2015.
Nước xuất khẩu dầu hàng đầu thế giới Saudi Arabia cam kết sẽ chấm dứt tình trạng dư thừa nguồn cung toàn cầu. Điều này đã giúp thị trường lạc quan cho dù kho dự trữ dầu hàng tuần của Mỹ bất ngờ cùng tăng sản lượng và xuất khẩu đều cao hơn.
Trong cuộc phỏng vấn với hãng tin Reuters,Bộ trưởng Năng lượng Saudi Arabia mới đây cho biết nước này sẽ tập trung duy trì lượng dầu khai thác ở mức trung bình của 5 năm và gia tăng triển vọng hạn chế sản lượng sau khi thỏa thuận cắt giảm sản lượng do Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) dẫn dắt hết hạn vào tháng 3/2018.
OPEC, Nga và các nước sản xuất đầu khác đã cắt giảm khoảng 1,8 triệu thùng dầu/ngày. OPEC sẽ nhóm họp vào ngày 7/11 tại Vienna, Áo, mà theo giới phân tích sẽ là cơ hội để các nước cân nhắc về phương án tiếp tục gia hạn thỏa thuận cắt giảm sản lượng.
Trong khi đó, Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) ngày 25/10 cho biết dự trữ dầu của Mỹ tăng 856.000 thùng trong tuần kết thúc vào ngày 20/10, cao hơn nhiều so với dự báo trước đó của thị trường là giảm 2,6 triệu thùng, cho thấy hoạt động sản xuất dầu tại nước này phục hồi sau đợt thiên tai vừa qua và nhập khẩu dầu tăng.
Số liệu của EIA cũng cho thấy dự trữ xăng và sản phẩm chưng cất đều giảm hơn 5 triệu thùng, cho thấy nhu cầu tiêu thụ xăng vẫn mạnh sau mùa lái xe cao điểm.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm xuống mức thấp nhất trong ba tuần, trước sự tăng giá của đồng USD so với đồng euro, theo sau kết quả cuộc họp của ECB.
Tại Mỹ, giá vàng giao ngay rơi xuống 1.266,27 USD/ounce, mức thấp nhất kể từ ngày 6/10; vàng giao tháng 12/2017 giảm 9,4 USD (0,7%) xuống 1.269,60 USD/ounce.
Ngày 26/10, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) đã quyết định giữ nguyên lãi suất cơ bản ở mức thấp kỷ lục. Cụ thể, ECB giữ mức lãi suất tái cấp vốn ở mức 0%, lãi suất cho vay là 0,25% và lãi suất tiền gửi là -0,4%. Các nhà hoạch định chính sách ECB cho biết chín tháng nữa họ mới đưa ra quyết định về bước đi tiếp theo liên quan tới chương trình mua trái phiếu theo chương trình nới lỏng định lượng đã được thực hiện từ năm 2015.
Một nhân tố khác tác động đến giá vàng là những đồn đoán rằng người kế nhiệm Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ ủng hộ tiến trình tiếp tục nâng lãi suất. Theo khảo sát của Reuters, thị trường vàng sẽ bước vào năm 2018 với không khí ảm đạm, giữa bối cảnh Fed tiến hành nâng lãi suất.
Trên thị trường nông sản, giá đường thô giảm do các nhà đầu tư bán ra mạnh. Đường thô giao tháng 3 giá giảm 0,07 US cent tương đương 0,5% xuống 14,11 US cent/lb, đường trắng giao tháng 12 giá giảm 70 US cent tương đương 0,2% xuống 373,40 USD/tấn.
Cà phê biến động trái chiều, arabica tăng 0,45 US cent tương đương 0,4% lên 1,2455 USD/lb, trong khi robusta giảm 12 US cent tương đương 0,6% xuống 1.949 USD/tấn.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

52,64

+0,46

+0,94%

Dầu Brent

USD/thùng

59,30

+0,86

+1,07%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

39.960,00

+770,00

+1,96%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,90

+0,01

+0,21%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

174,75

-0,31

-0,18%

Dầu đốt

US cent/gallon

184,55

+0,36

+0,20%

Dầu khí

USD/tấn

537,25

+5,50

+1,03%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

54.670,00

+800,00

+1,49%

Vàng New York

USD/ounce

1.267,40

-2,20

-0,17%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.633,00

-27,00

-0,58%

Bạc New York

USD/ounce

16,78

-0,03

-0,18%

Bạc TOCOM

JPY/g

61,80

+0,10

+0,16%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

918,25

-0,30

-0,03%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

969,56

-2,36

-0,24%

Đồng New York

US cent/lb

317,30

-0,45

-0,14%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.986,00

-24,00

-0,34%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.190,00

+4,00

+0,18%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.225,00

+34,00

+1,07%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

19.850,00

-40,00

-0,20%

Ngô

US cent/bushel

349,75

-0,75

-0,21%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

430,25

-1,50

-0,35%

Lúa mạch

US cent/bushel

267,00

+4,50

+1,71%

Gạo thô

USD/cwt

11,82

+0,03

+0,25%

Đậu tương

US cent/bushel

983,00

+0,50

+0,05%

Khô đậu tương

USD/tấn

312,00

-0,10

-0,03%

Dầu đậu tương

US cent/lb

34,53

+0,03

+0,09%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

515,30

-1,00

-0,19%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.119,00

+34,00

+1,63%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

124,55

+0,45

+0,36%

Đường thô

US cent/lb

14,11

-0,07

-0,49%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

153,60

+0,90

+0,59%

Bông

US cent/lb

68,19

-1,12

-1,62%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

435,30

+2,70

+0,62%

Cao su TOCOM

JPY/kg

201,30

-0,10

-0,05%

Ethanol CME

USD/gallon

1,41

+0,01

+0,86%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg