Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng nhẹ giữa bối cảnh vẫn còn lo ngại về tình trạng dư cung nhưng xuất hiện thông tin Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) tại cuộc họp ở Vienna, Áo, đã nhất trí gia hạn thỏa thuận cắt giảm sản lượng cho đến tháng 3/2020.
Khép lại phiên này, giá dầu Brent Biển Bắc kỳ hạn tháng 9/2019 tăng 32 US cent lên 65,06 USD/thùng. Trước đó, trong cùng ngày, giá mặt hàng này đã có lúc tăng lên mức cao nhất trong phiên là 66,75 USD/thùng. Dầu Brent hợp đồng kỳ hạn tháng 8/2019 đáo hạn ngày 28/6/2019 ở mức giá 66,55 USD/thùng. Giá dầu thô ngọt nhẹ Mỹ (WTI) kỳ hạn tháng 8/2019 tăng 62 UScent lên 59,09 USD/thùng, sau khi chạm mức cao nhất trong hơn 5 tuần là 60,28 USD/thùng.
OPEC ngày 1/7/2019 đã nhất trí sẽ gia hạn thỏa thuận cắt giảm nguồn cung cho đến tháng 3/2020 để đẩy giá “vàng đen” đi lên giữa bối cảnh kinh tế toàn cầu suy yếu và sản lượng dầu của Mỹ gia tăng, sau khi các thành viên đã vượt qua được những bất đồng. OPEC dự kiến sẽ nhóm họp với Nga và các nhà sản xuất khác, hay còn gọi là OPEC+, vào ngày 2/7 để thảo luận về thỏa thuận trên.
Iran, vốn đang chịu các lệnh trừng phạt của Mỹ cùng với Venezuela, ngày 1/7/2019 đã cùng với các nhà sản xuất hàng đầu là Saudi Arabia, Iraq và Nga ủng hộ gia hạn thỏa thuận cắt giảm nguồn cung. Tổng thống Nga Vladimir Putin ngày 30/6/2019 cho biết ông đã đồng ý với Saudi Arabia về việc gia hạn thỏa thuận cắt giảm sản lượng 1,2 triệu thùng mỗi ngày thêm 6 đến 9 tháng nữa.
Trong những tháng gần đây, tình hình nguồn cung dầu gia tăng của Mỹ và kinh tế toàn cầu chậm lại đã gây sức ép cho giá "vàng đen". Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), sản lượng dầu thô trong tháng Tư của Mỹ đã tăng lên mức cao kỷ lục mới 12,16 triệu thùng/ngày.

Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm do USD và chứng khoán mạnh lên sau khi Mỹ và Trung Quốc thống nhất nối lại các cuộc đàm phán thương mại.

Kết thúc phiên giao dịch, vàng giao ngay giảm 1,66% xuống 1.385,75 USD/ounce, vàng giao sau giảm 1,7% xuống 1.389,30 USD/ounce.
Mỹ và Trung Quốc cuối tuần qua đã nhất trí nối lại các cuộc đàm phán thương mại sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình gặp nhau tại Nhật Bản. Thông tin này đã khích lệ các thị trường chứng khoán và đưa chỉ số USD lên mức cao nhất trong hơn một tuần, qua đó làm hạn chế dòng lưu thông của vàng, vốn được coi là tài sản an toàn trong thời kỳ bất ổn.
Giá vàng đã đạt mức cao nhất 6 năm hồi tuần trước, 1.438,63 USD/ounce, nhờ lập trường ôn hòa của các ngân hàng trung ương lớn và căng thẳng gia tăng giữa Mỹ và Iran. Kim loại quý này đã để mất khoảng 50 USD kể từ khi vượt ngưỡng 1.400 USD/ounce, song một số nhà phân tích nhận thấy đây là đợt điều chỉnh có lợi và là cơ hội để mua vào.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giao ngay giảm 1,1% xuống 15,14 USD/ounce, bạch kim giao ngay giảm 0,66% xuống 827,50 USD/ounce sau khi chạm mức cao của sáu tuần là 846,11 USD/ounce trước đó, trong khi palađi tăng 0,68% lên 1.548,51 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá đồng trên sàn London (LME) có lúc tăng lên mức cao nhất 6 tuần bởi thị trường lạc quan sau thông tin Mỹ và Trung Quốc đình chiến thương mại.
Đồng giao sau 3 tháng tại LME kết thúc phiên giảm 0,6% xuống 5.955 USD/tấn, nhưng đầu phiên có lúc đạt 6.075 USD/tấn, cao nhất kể từ 20/5/2019.
Mỹ và Trung Quốc đã nhất trí bắt đầu lại các cuộc đàm phán thương mại và Tổng thống Mỹ Donald Trump đã đưa ra một số nhượng bộ, bao gồm tạm hoãn áp thuế quan mới và nới lỏng những hạn chế đối với công ty công nghệ Huawei của Trung Quốc. Tuy nhiên, hai bên chưa đặt ra thời hạn cụ thể để cho tiến trình đàm phán này, và vẫn còn nhiều bất đồng cho một thỏa thuận song phương. Như vậy, thuế hiện tại sẽ chỉ duy trì trong quá trình hai bên đàm phán, và điều đó không đủ để thuyết phục các doanh nghiệp tin tưởng vào một thỏa thuận đầy đủ giữa 2 cường quốc này.
Trong khi đó, hàng loạt số liệu mới cho thấy hoạt động sản xuất giảm ở hầu hết các nước Châu Á và Châu Âu trong tháng 6/2019, bao gồm cả Trung Quốc, giữa bối cảnh nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu chững lại. Sản xuất tại Mỹ cũng tăng trưởng thấp nhất hơn 2,5 năm.
Giá quặng sắt trên thị trường Trung Quốc phiên vừa qua đã lập kỷ lục cao mới do nguồn cung khan hiếm và dự báo giá thép sẽ tăng kéo theo nhu cầu nguyên liệu ngành thép tăng lên.
Quặng sắt kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn Đại Liên trong phiên vừa qua có lúc tăng 4,9% lên 874,5 CNY (127,94 USD)/tấn, cao nhất kể từ khi lập sàn giao dịch này (năm 2018). Kết thúc phiên, quặng sắt vẫn tăng 4,7% lên 873 CNY/tấn. Quý 2/2019 quặng sắt đã tăng giá mạnh nhất kể từ cuối 2016.
Thép bắt đầu đợt tăng giá này kể từ ngày 19/6/2019 và đà tăng vẫn nối dài, lập kỷ lục là đợt tăng giá dài nhất kể từ giữa năm 2017, do những hạn chế nghiêm ngặt về sản lượng để giảm thiếu ô nhiễm ở các trung tâm công nghiệp tại Trung Quốc. Thị trường đang lo ngại sẽ thiếu cung thép ở Trung Quốc trong 6 tháng cuối năm 2019 trong bối cảnh Chính phủ Trung Quốc đang tập trung kích thích kinh tế để thúc đẩy tăng trưởng.
Thép cây kỳ hạn tháng 10/2019 trên sàn Thượng Hải tăng 1,6% cuối phiên vừa qua, lên 4.107 CNY/tấn, đầu phiên có lúc đạt 4.148 CNY, cao nhất kể từ tháng 2/2011.
Thép cuộn cán nóng cũng lập kỷ lục cao 4.049 CNY/tấn trước khi kết thúc ở mức 9.383 CNY, vẫn là tăng 1,2% so với phiên giao dịch trước.
Lượng thép lưu kho tại các cảng Trung Quốc tính tới 28/6/2019 là 115,25 triệu tấn, giảm mạnh so với gần 149 triệu tấn hồi giữa tháng 4/2019.

Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica đã tăng lên mức cao nhất trong vòng 7 tháng do lo ngại thời tiết lạnh ở Brazil ảnh hưởng tới sản lượng, mặc dù vẫn chưa rõ mức độ thiệt hại do thời tiết lạnh gây ra cho các nông trường cà phê.

Kết thúc phiên giao dịch vừa qua, arabica kỳ hạn tháng 9/2019 tăng 1,9 UScent tương đương 1,7% lên 1,1135 USD/lb, sau khi cùng ngày có lúc đạt 1,1410 USD, cao nhất kể từ 29/11/2018. Đây là phiên giao dịch thứ 2 liên tiếp arabica kết thúc ở mức cao hơn trung bình 200 ngày.
Hợp đồng Robusta kỳ hạn tháng 9/2019 kết thúc phiên cũng tăng 23 USD tương đương 1,6% lên 1.474 USD/tấn, sau khi trong phiên có lúc chạm mức cao nhất hơn 3 tuần là 1.489 USD/tấn, nhờ ảnh hưởng tích cực từ thị trường arabica.
Xuất khẩu cà phê toàn cầu trong 5 tháng đầu năm 2019 tăng 19,4% lên 11,6 triệu bao (1 bao = 60 kg), theo thông tin từ Tổ chức Cà phê quốc tế.
Giá đường thô kỳ hạn giao tháng 10/2019 giảm 0,05 UScent tương đương 0,4% xuống 12,57 UScent/lb, trong khi đường trắng giao tháng 8/2019 giảm 1,5 USD tương đương 0,5% xuống
326,90 USD/tấn.
Giá cacao kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn New York tăng 76 USD tương đương 3,1% lên 2.501 USD/tấn, trong khi hợp đồng cùng kỳ hạn trên sàn London tăng 39 GBP tương đương 2,2% lên 1.844 GBP/tấn do thông tin Bờ Biển Ngà lên kế hoạch trong 5 năm tới sẽ xóa bỏ hết những diện tích trồng cacao bất hợp pháp ở các rừng quốc gia và các khu rừng phòng hộ để kiểm soát tốt hơn sản lượng cũng như giá cả.
Lượng cacao chuyển tới các cảng biển của quốc gia sản xuất cacao lớn nhất thế giới này trong giai đoạn 1/10/2018 – 30/6/2019 đạt khoảng 2,098 triệu tấn, tăng khoảng 11% so với cùng kỳ năm ngoái.
Giá cao su trên sàn Tokyo cũng tăng lên mức cao nhất trong vòng 1 tuần khi các nhà đầu tư tăng cường mua hàng hóa bởi kỳ vọng vào việc Mỹ và Trung Quốc sẽ đàm phán để giảm bớt căng thẳng thương mại.
Cao su hợp đồng kỳ hạn tháng 12/2019 trên sàn Tokyo tăng 1,7 JPY tương đương 0,9% lên 195,2 JPY (1,8 USD)/kg vào cuối phiên, sau khi có lúc đạt 197 JPY, cao nhất kể từ 24/6/2019.
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

59,09

+0,62

 

Dầu Brent

USD/thùng

65,06

+0,32

+0,49%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

41.540,00

-960,00

-2,26%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,27

+0,00

+0,13%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

192,32

-0,73

-0,38%

Dầu đốt

US cent/gallon

195,09

-0,29

-0,15%

Dầu khí

USD/tấn

590,50

-4,50

-0,76%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

59.290,00

-690,00

-1,15%

Vàng New York

USD/ounce

1.390,10

+0,80

+0,06%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.802,00

-10,00

-0,21%

Bạc New York

USD/ounce

15,19

0,00

-0,02%

Bạc TOCOM

JPY/g

53,00

+0,30

+0,57%

Bạch kim

USD/ounce

832,81

+0,47

+0,06%

Palađi

USD/ounce

1.548,19

+0,30

+0,02%

Đồng New York

US cent/lb

268,60

-0,20

-0,07%

Đồng LME

USD/tấn

5.993,00

+4,00

+0,07%

Nhôm LME

USD/tấn

1.800,00

+10,00

+0,56%

Kẽm LME

USD/tấn

2.495,00

+20,00

+0,81%

Thiếc LME

USD/tấn

18.825,00

-25,00

-0,13%

Ngô

US cent/bushel

422,50

-9,00

-2,09%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

511,75

-15,50

-2,94%

Lúa mạch

US cent/bushel

284,75

+8,25

+2,98%

Gạo thô

USD/cwt

11,52

-0,05

-0,48%

Đậu tương

US cent/bushel

908,50

-14,50

-1,57%

Khô đậu tương

USD/tấn

314,60

-8,30

-2,57%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,59

-0,24

-0,83%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

455,90

+3,90

+0,86%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.501,00

+76,00

+3,13%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

111,35

+1,90

+1,74%

Đường thô

US cent/lb

12,57

-0,05

-0,40%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

100,50

-3,55

-3,41%

Bông

US cent/lb

66,58

+0,50

+0,76%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

394,10

+19,00

+5,07%

Cao su TOCOM

JPY/kg

194,50

-0,70

-0,36%

Ethanol CME

USD/gallon

1,50

-0,03

-1,77%

Nguồn: VITIC/Bloomberg, Reuters