Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng nhẹ sau khi có thông tin Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) sẽ tiếp tục kế hoạch cắt giảm sản lượng bất chấp những chỉ trích của Tổng thống Mỹ Donald Trump.
Tại thị trường London, giá dầu Brent Biển Bắc khép phiên tăng 0,45 USD lên 65,21 USD/thùng; trong khi giá dầu thô ngọt nhẹ Mỹ (WTI) tại New York nhích 0,02 USD lên 55,5 USD/thùng.
Giá dầu thô đã lao dốc hơn 3,5% ngay trong phiên đầu tuần, mức sụt giảm theo ngày lớn nhất kể từ đầu năm 2019 đến nay, sau khi Tổng thống Trump nói ông muốn OPEC "hạ nhiệt" bớt nỗ lực cắt giảm sản lượng để đẩy giá dầu đi lên.
Tuy nhiên, một nguồn tin thân cận của OPEC cho biết tổ chức này sẽ giữ vững cam kết của họ. Đồng thời, OPEC sẽ thúc đẩy các nước thành viên và các nhà sản xuất ngoài khối tuân thủ nghiêm ngặt kế hoạch cắt giảm sản lượng đã đề ra để cân bằng thị trường và đưa lượng dầu dự trữ xuống mức trung bình của 5 năm.
Nhà quản lý cấp cao Gene McGillian thuộc công ty môi giới đầu tư trên thị trường năng lượng Tradition Energy cho biết sau khi thoái lui ngày hôm qua, thị trường đang cố ổn định trở lại. Về cơ bản, nhà đầu tư đang dõi theo kế hoạch cắt giảm sản lượng của OPEC và cả lệnh trừng phạt của Mỹ đối với Venezuela – một yếu tố sẽ góp phần thắt chặt nguồn cung.
Giá dầu đã tăng khoảng 20% kể từ đầu năm nay chủ yếu nhờ vào thỏa thuận cắt giảm sản lượng của OPEC và các nhà sản xuất ngoài OPEC, trong đó có Nga. Bên cạnh đó, việc các nguồn cung từ Venezuela bị hạn chế kể từ khi Washington áp các lệnh trừng phạt lên nước này cũng hỗ trợ giá dầu.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng vững sau khi Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) Jerome Powell nhắc lại quan điểm Fed kiên nhẫn trong lộ trình tăng lãi suất.
Khép phiên này, giá vàng giao kỳ hạn tại New York được mua bán ở mức 1.328,5 USD/ounce, giảm khoảng 0,1% so với phiên trước đó; vàng giao ngay tại London ổn định ở mức 1.327,41 USD/ ounce.
Phát biểu trong cuộc điều trần trước một Ủy ban Thượng viện Mỹ ngày 26/2, Chủ tịch Powell tái khẳng định quan điểm "kiên nhẫn" trong lộ trình tăng lãi suất của Fed - Ngân hàng trung ương Mỹ. Lãi suất có mối liên hệ trực tiếp với giá vàng khi lãi suất thấp hơn làm giảm chi phí cơ hội nắm giữ vàng và tạo sức ép lên đồng USD. Theo các chuyên gia, dữ liệu về niềm tin tiêu dùng mạnh hơn dự kiến đã và đang tạo sức ép lên giá vàng.
Về những kim loại quý khác, giá palađi giao ngay tăng 0,9% lên 1.555 USD/ ounce vào cuối phiên, sau khi trước đó có lúc tăng lên 1.565,09 USD/ ounce – vượt qua mốc 1.550 USD/ounce lần đầu tiên giữa bối cảnh nguồn cung thâm hụt trầm trọng. Tính từ đầu năm tới nay, giá kim loại này đã tăng hơn 23%.
Giá bạc phiên này giảm 0,1% xuống 15,88 USD/ ounce. Trong lúc giá bạch kim tăng 0,6% lên 854 USD/ ounce, sau khi có lúc tăng lên 858 USD/ ounce – mức cao nhất kể từ đầu tháng 11/2018.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá quặng sắt của Trung Quốc chạm mức thấp nhất trong hơn ba tuần sau khi có tin cho biết xuất khẩu quặng sắt trung bình hàng ngày của Brazil trong tháng này đã tăng mạnh so với cùng kỳ năm ngoái, bất chấp thảm họa tại các mỏ trong tháng trước. Giá quặng sắt giao tháng 5 trên Sàn giao dịch hàng hóa Đại Liên chốt phiên giảm 3,2% xuống 593,5 CNY(88,60 USD)/tấn, đã giảm 4,4% so với đầu phiên giao dịch.
Trong tháng tính đến ngày 22/2, Brazil đã xuất khẩu trung bình 1,4 triệu tấn quặng sắt/ngày,
Giá thép cây Trung Quốc tăng lên do tâm lý lạc quan về thỏa thuận thương mại có thể đạt được giữa Bắc Kinh và Washington. Giá thép cây tại Thượng Hải chốt phiên tăng 0,3% đạt 3.736 CNY/tấn, cao nhất trong hơn hai tuần. Giá thép cuộn cán nóng tăng nhẹ 0,9% lên 3.744 CNY/tấn.
Sản lượng thép thô toàn cầu tăng 1,0% lên 147 triệu tấn trong tháng 1/2019 so với cùng kỳ năm trước, theo Hiệp hội Thép Thế giới. Sản lượng thép thô từ Trung Quốc, nhà sản xuất và tiêu thụ hợp kim hàng đầu thế giới, tăng lên 75,0 triệu tấn, tăng 4,3% so với tháng 1/2018.
Sàn giao dịch hàng hóa Đại Liên của Trung Quốc cho biết sẽ cho phép các nhà đầu tư nước ngoài giao dịch quặng sắt kỳ hạn bắt đầu từ ngày hôm nay, mở rộng khả năng tiếp cận thị trường của nước này.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê Arabica giảm xuống mức thấp nhất 5 tháng do nguồn cung dư thừa và triển vọng vụ thu hoạch dồi dào ở Brazil trong năm nay. Cà phê arabica giảm 3,05 US cent, tương đương 3,1%, xuống mức 96,80 Us cent/lb, mức thấp 5 tháng. Trong ngày, giá cà phê kỳ hạn đã chạm mức thấp hơn là 96,35 Us cent/lb. Như vậy, giá đã giảm hơn 11% trong tháng này, tháng giảm tồi tệ nhất 4 năm qua. Giá cà phê robusta giảm 12 USD tương đương 0,8% xuống 1.538 USD/tấn.
Đối với mặt hàng đường, giá đường thô giao tháng 5/2019 giảm 0,15 US cent tương đương 1,2% xuống 12,85 US cent/lb; đường trắng giao tháng 5/2019 giảm 2,7 USD tương đương 0,8% xuống 347,8 USD/tấn.
Dầu cọ Malaysia chốt phiên giảm hơn 1%, chạm mức thấp nhất trong gần sáu tuần, do giá đậu tương yếu hơn và dự báo sản lượng dầu cọ tháng 2 sẽ cao hơn bình thường.
Giá dầu cọ giao hàng tháng 1/2019 trên Sàn giao dịch Bursa Malaysia đã giảm 1,4% xuống 2.183 ringgit (536,50 USD)/tấn, phiên giảm thứ ba liên tiếp.
Giá đậu tương kỳ hạn tháng 3 tại Chicago đã giảm 1% do vụ thu hoạch nhanh chóng ở nhà xuất khẩu hàng đầu Brazil đẩy tăng nguồn cung toàn cầu.
Đối với mặt hàng sắn, Hiệp hội Thương mại sắn Thái Lan thông báo giá sàn xuất khẩu sắn giảm 5 USD/tấn trong 20 ngày đầu tháng 2/2019, xuống còn 205 USD/tấn, FOB Bangkok. Trong khi đó, theo báo giá của Hiệp hội tinh bột sắn Thái Lan, chào giá xuất khẩu tinh bột sắn được điều chỉnh tăng thêm 5 -10 USD/tấn, so với cuối tháng 1, lên 450 - 455 USD/ tấn, FOB Băng Cốc. Giá tinh bột sắn giao dịch trên thị trường nội địa Thái Lan được điều chỉnh giảm 0,3 baht/kg, so với cuối tháng 1 xuống mức 13,5 baht/kg, giá sắn nguyên liệu nội địa giữ ổn định so với cuối tháng 1, ở mức 2,3 - 2,6 baht/kg.
Giá cao su tại Tokyo giảm do dự trữ cao và nhu cầu yếu. Giá cao su giao hàng tháng 8/2019 giảm 2,4 JPY(0,0217 USD) còn mức 199,1 JPY/kg. Giá cao su giao tháng 5/2019 tại Thượng Hải giảm 135 CNY(20,17 USD) chốt phiên đạt 12.400 CNY/tấn. Giá cao su 20 RSR kỳ hạn tháng 8/2019 tại Tokyo đóng cửa giảm 1,4 JPY còn 168,8 JPY/kg. Giá cao su tại Singapore giao hàng tháng 3/2019 chốt phiên ở mức 143 US cent/kg, giảm 1,2%.
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

55,5

+0,02

Dầu Brent

USD/thùng

65,21

+0,45

+0,64%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

44.300,00

+700,00

+1,61%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,86

+0,02

+0,67%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

160,09

+1,46

+0,92%

Dầu đốt

US cent/gallon

200,84

+0,99

+0,50%

Dầu khí

USD/tấn

614,00

+1,25

+0,20%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

60.150,00

+730,00

+1,23%

Vàng New York

USD/ounce

1.331,20

+2,70

+0,20%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.711,00

-9,00

-0,19%

Bạc New York

USD/ounce

15,97

+0,04

+0,28%

Bạc TOCOM

JPY/g

56,60

0,00

0,00%

Bạch kim

USD/ounce

862,60

+1,10

+0,13%

Palađi

USD/ounce

1.563,22

-1,15

-0,07%

Đồng New York

US cent/lb

295,15

+0,10

+0,03%

Đồng LME

USD/tấn

6.493,00

+13,00

+0,20%

Nhôm LME

USD/tấn

1.911,00

+5,00

+0,26%

Kẽm LME

USD/tấn

2.740,00

+21,00

+0,77%

Thiếc LME

USD/tấn

21.610,00

-130,00

-0,60%

Ngô

US cent/bushel

376,00

-4,00

-1,05%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

468,25

-4,50

-0,95%

Lúa mạch

US cent/bushel

268,00

-4,00

-1,47%

Gạo thô

USD/cwt

10,63

+0,29

+2,81%

Đậu tương

US cent/bushel

917,00

-8,00

-0,86%

Khô đậu tương

USD/tấn

307,30

-2,10

-0,68%

Dầu đậu tương

US cent/lb

30,40

-0,28

-0,91%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

476,00

+1,20

+0,25%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.276,00

+20,00

+0,89%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

96,80

-3,05

-3,05%

Đường thô

US cent/lb

12,85

-0,15

-1,15%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

118,95

-0,60

-0,50%

Bông

US cent/lb

72,02

-1,08

-1,48%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

393,20

-2,20

-0,56%

Cao su TOCOM

JPY/kg

199,60

+0,50

+0,25%

Ethanol CME

USD/gallon

1,36

0,00

-0,22%

Nguồn: VITIC/Bloomberg. Reuters. CafeF