Trên thị trường năng lượng, giá dầu tiếp tục tăng do các nhà đầu tư ngày càng quan ngại về khả năng Mỹ sẽ áp đặt trở lại các biện pháp trừng phạt đối với Iran, nhà sản xuất dầu mỏ lớn thứ 3 trong Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC), trong bối cảnh sản lượng dầu của Venezuela sụt giảm và nhu cầu tiêu thụ dầu ngày càng cao, chứng khoán tăng giá.
Kết thúc phiên giao dịch, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 6/2018 tăng 0,14 USD lên 68,19 USD/thùng; dầu Brent giao cùng kỳ hạn tăng 0,74 USD, lên 74,74 USD/thùng.
Một cố vấn hàng đầu cho nhà lãnh đạo tối cao của Iran cho biết Tehran sẽ không chấp nhận bất kỳ thay đổi nào đối với thỏa thuận hạt nhân năm 2015, trong khi phương Tây chuẩn bị một loạt sáng kiến mới với hy vọng thuyết phục Tổng thống Mỹ Donald Trump gắn bó với hiệp ước này. Điều này xảy ra một ngày sau khi Tổng thống Pháp Emmanuel Macron cho biết ông dự kiến Trump sẽ rút khỏi thỏa thuận. Giá dầu Brent đã tăng khoảng 6% trong tháng này do lo ngại Mỹ có thể sẽ làm như vậy.
Sản lượng dầu thô của Venezuela đã giảm từ mức 2,5 triệu thùng/ngày vào đầu năm 2016 xuống còn 1,5 triệu thùng/ngày hiện nay do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, chính trị.
Giá dầu đi xuống hồi đầu tuần sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump phát đi tín hiệu về khả năng Mỹ và Pháp tiến gần tói việc đạt được một thỏa thuận để duy trì thỏa thuận hạt nhân với Iran. Đến ngày 12/5, Mỹ sẽ đưa ra quyết định liệu có gạt bỏ thỏa thuận hạt nhân đã ký với Iran và tái áp đặt lệnh trừng phạt nước này hay không.
Một số chuyên gia dự báo giá dầu thô sẽ duy trì đà phục hồi bởi tình trạng dư dôi nguồn cung bắt đầu từ năm 2014 đã chấm dứt do nguồn cung dầu thô bị gián đoạn và nhu cầu trên thế giới tăng cao.
Nhập khẩu dầu thô bằng đường biển của các nước tiêu thụ dầu chính châu Á sẽ đạt kỷ lục trong tháng này. Vào cuối tháng Tư, Trung Quốc sẽ tiêu thụ hơn 9 triệu thùng dầu thô - mức tiêu thụ nhiều chưa từng có và chiếm gần 10% mức tiêu thụ toàn cầu.
Thị trường chứng khoán, với cả ba chỉ số chính đều tăng, cũng đang hỗ trợ dầu, theo Walter Zimmerman, giám đốc phân tích kỹ thuật tại United-ICAP.
Theo EIA, tồn kho dầu thô của Mỹ tăng 2,2 triệu thùng trong tuần kết thúc vào ngày 20/4, đạt mức gần 430 triệu thùng, cao hơn khoảng 10 triệu thùng so với mức trung bình 5 năm. Sản lượng dầu thô của Mỹ tăng thêm 46.000 thùng/ngày, đạt mức 10,59 triệu thùng/ngày. Từ giữa năm 2016 đến nay, sản lượng dầu của Mỹ đã tăng khoảng 25%.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng duy trì quanh mức thấp trong gần năm tuần giữa bối cảnh đồng USD và lợi suất trái phiếu chính phủ của Mỹ đều tăng lên.
Vàng giao ngay giá giảm 0,4% xuống 1.317,31 USD/ounce; vàng giao tháng 6/2018 giảm 4,9 USD (0,4%) xuống 1.317,90 USD/ounce.
Chỉ số đô la Mỹ, thước đo của USD so với một rổ tiền tệ lớn khác, tăng 0,23% đạt 91,47 vào lúc 17:18 GMT.
Vàng và USD thường di chuyển ngược nhau. Khi USD tăng lên, sẽ hạn chế nhu cầu mua vàng tính bằng USD, đặc biệt là đối với các nhà đầu tư sử dụng các đồng tiền khác.
Những lo ngại về nợ chính phủ Mỹ đang gia tăng và áp lực lạm phát từ giá dầu tăng trong tuần này đã đẩy lãi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm của Mỹ lên trên 3%, lần đầu tiên sau bốn năm. Điều này đã làm giảm sự hấp dẫn của vàng, đồng thời đẩy USD lên mức cao nhất kể từ tháng 1/2018, khiến vàng thỏi trở nên đắt hơn đối với các chủ sở hữu của các loại tiền tệ khác. Tuy nhiên, hoạt động mua giao ngay và những hỗ trợ mang tính kỹ thuật đã giúp ngăn chặn đà giảm mạnh của giá vàng.
Các chuyên gia nhận định mối lo ngại về số nợ gia tăng của Chính phủ Mỹ và sức ép lạm phát do giá dầu tăng lên trong tuần này đã thúc đẩy lợi suất trái phiếu chính phủ của Mỹ tăng lên trên 3% lần đầu tiên trong bốn năm - yếu tố gây bất lợi cho giá vàng. Bên cạnh đó, việc đồng USD tăng lên mức cao nhất kể từ tháng Một cũng khiến kim loại quý này trở nên đắt đỏ hơn đối với các nhà đầu tư nắm giữ những đồng tiền khác.
Theo cuộc khảo sát do hãng tin Reuters tiến hành trong tháng này, các nhà phân tích và thương gia dự báo giá vàng sẽ bình quân ở mức 1.334 USD/ounce trong năm nay và 1.352 USD/ounce vào năm tới.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giảm xuống 16,41 USD/ounce, mức thấp nhất trong hơn hai tuần, còn giá bạch kim tăng 0,4% lên 909,10 USD/ounce phiên này. Các nhà phân tích dự báo giá bạc sẽ trung bình ở mức 17,28 USD/ounce trong năm nay và 18 USD/ounce vào năm tới.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá thép tăng mạnh lên mức cao nhất gần 7 tuần do dự trữ tại Trung Quốc giảm trong khi nhu cầu xây dựng tăng cao, trái lại giá quặng sắt giảm.
Giá thép cây kỳ hạn giao tháng 10 trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải đạt 3.613 NDT (571 USD)/tấn, cao nhất kể từ ngày 8/3, trước khi giảm 0,3% còn 3.557 NDT lúc 0232 GMT.
Dự trữ thanh cốt thép xây dựng của các thương gia Trung Quốc đã giảm 21% khỏi mức cao nhất 5 năm đạt được vào giữa tháng 3/2018, xuống còn 7,69 triệu tấn vào ngày 20/4, theo số liệu của công ty tư vấn SteelHome.
Tình trạng căng thẳng thương mại leo thang giữa Mỹ -Trung cũng có thể khiến Bắc Kinh phải hành động để ngăn chặn bất kỳ tác động nào đối với nền kinh tế trong nước.
Trong khi đó, giá quặng sắt lại giảm. Giá quặng sắt giao tháng 9 trên sàn giao dịch Đại Liên giảm 1% xuống còn 466 NDT/tấn, phiên giảm thứ hai liên tiếp, sau đợt tăng 5 ngày đẩy nguyên liệu lên đỉnh cao nhất trong một tháng vào thứ Hai đầu tuần. Giá quặng sắt giao tại cảng Qingdao của Trung Quốc giảm 1,3% xuống còn 66,38 USD/ tấn, mức thấp nhất kể từ ngày 18/4, theo Metal Bulletin.
Dự trữ quặng sắt tại các cảng của Trung Quốc ở mức 159,78 triệu tấn vào ngày 20/4, thấp hơn mức cao kỷ lục 161,68 triệu tấn hồi cuối tháng 3, theo số liệu của SteelHome.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica giao tháng 7 tăng 0,85 US cent tương đương 0,7% 1,1965 USD/lb, robusta giao cùng kỳ hạn tăng 11 USD tương đương 0,6% lên 1.771 USD/tấn.
Giá cao cao kỳ hạn tại New York chốt phiên giao dịch đã rời khỏi mức cao nhất hơn 1 năm rưỡi qua do hoạt động chốt lời. Giá cacao tháng 7 tại New York chốt phiên giảm 34 USD, tương đương 1,2%, xuống còn 2.802 USD/tấn sau khi tăng lên mức 2.943 USD, mức cao nhất kể từ tháng 9/2016.
Giữa ngày, giá đã bị đẩy lên do hoạt động đầu cơ, dấu hiệu vụ thu hoạch kém hơn tại Tây Phi và nhu cầu đang mạnh.Tuy nhiên, mức tăng giá bị hạn chế bởi nguồn hàng dồi dào tại Bờ biển Nga và Ghana. Bờ biển Ngà đã xuất khẩu 1.078.859 tấn cacao thô hạt vào cuối tháng 3/2018, tăng 19,5% so với cùng kỳ năm ngoái.
Giá cacao giao tháng 7 tại Luân Đôn tăng 13 pound, tương đương 0,7%, ở mức 1.875 pound / tấn.
Giá cao su kỳ hạn tại Tokyo giảm nhẹ do cung vượt cầu ở châu Á và giá cao su kỳ hạn yếu hơn tại Thượng Hải. Dự trữ cao su thô tại các cảng Nhật Bản ở mức 16.357 tấn tính đến ngày 10/4, theo Hiệp hội thương mại cao su Nhật Bản.
Giá cao su kỳ hạn tháng 10 tại sở giao dịch Tokyo chốt phiên giao dịch giảm 1,1 yên, xuống còn 187,1 yên/kg.
Giá hợp đồng cao su giao tháng 9 tại sở giao dịch Thượng Hải giảm 180 NDT xuống còn 11.420 NDT/tấn.
Giá hợp đồng cao su giao tháng 5 trên sàn SICOM của Singapore chốt phiên ở mức 137,7 cent Mỹ/kg, giảm 2,1 cent.
Giá cao su SMR 20 làm lốp xe tại Malaysia đóng cửa giảm 1 sen xuống 538 sen/kg, nhưng giá mủ cao su tăng 5,5 sen lên 451 sen/kg.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

68,19

+0,14

+0,31%

Dầu Brent

USD/thùng

74,74

+0,74

+1,32%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

46.560,00

-160,00

-0,34%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,82

-0,02

-0,63%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

210,76

-0,47

-0,22%

Dầu đốt

US cent/gallon

215,47

-0,53

-0,25%

Dầu khí

USD/tấn

648,75

-3,25

-0,50%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

63.000,00

-40,00

-0,06%

Vàng New York

USD/ounce

1.317,30

-0,60

-0,05%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.610,00

-32,00

-0,69%

Bạc New York

USD/ounce

16,56

-0,01

-0,04%

Bạc TOCOM

JPY/g

58,30

0,00

0,00%

Bạch kim giao ngay

USD/ounce

908,18

+0,24

+0,03%

Palladium giao ngay

USD/ounce

988,48

+1,73

+0,18%

Đồng New York

US cent/lb

313,20

-0,60

-0,19%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.965,00

-43,00

-0,61%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.275,00

+30,00

+1,34%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.135,00

0,00

0,00%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

21.400,00

+150,00

+0,71%

Ngô

US cent/bushel

396,00

+0,75

+0,19%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

492,00

+2,50

+0,51%

Lúa mạch

US cent/bushel

230,25

+1,50

+0,66%

Gạo thô

USD/cwt

12,95

0,00

0,00%

Đậu tương

US cent/bushel

1.042,00

+2,50

+0,24%

Khô đậu tương

USD/tấn

385,60

+2,30

+0,60%

Dầu đậu tương

US cent/lb

31,06

-0,03

-0,10%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

532,30

0,00

0,00%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.802,00

-34,00

-1,20%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

119,65

+0,85

+0,72%

Đường thô

US cent/lb

11,38

+0,26

+2,34%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

153,85

+5,00

+3,36%

Bông

US cent/lb

84,53

+0,36

+0,43%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

552,20

+6,80

+1,25%

Cao su TOCOM

JPY/kg

187,20

+0,10

+0,05%

Ethanol CME

USD/gallon

1,46

-0,01

-0,61%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg