Trên thị trường năng lượng, giá dầu biến động không đồng nhất. Tại Mỹ, dầu thô ngọt nhẹ (WTI) tiếp tục giảm do lo ngại dư cung, trong khi đó dầu Brent tại London tăng nhẹ.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu WTI kỳ hạn giao tháng 9/2016 giảm 21 US cent xuống 42,92 USD/thùng, dầu Brent cùng kỳ hạn tăng 15 US centy lên 44,87 USD/thùng.
Viện Dầu mỏ Mỹ (API) cho biết, theo số liệu của Viện, trong tuần kết thúc vào 22/7, lượng dầu lưu kho của Mỹ giảm 827.000 thùng, dự trữ xăng giảm 423.000 thùng trong khi nguồn cung sản phẩm chưng cất tăng 292.000 thùng. Theo Bộ Năng lượng Mỹ, nguồn cung xăng tại nước này hiện cao hơn 11,4% so với cùng kỳ năm trước.
Lo ngại về tình trạng thừa cung đã khiến giá dầu giảm trong suốt tháng 7, đảo ngược đà tăng kéo dài 5 tháng, từng đẩy giá dầu lên trên 50 USD/thùng. Các nhà máy lọc dầu của Mỹ đang cung cấp sản phẩm lọc dầu vượt quá so với nhu cầu.
Ngân hàng Commerzbank tỏ ra lo ngại và trích dẫn số liệu của hãng tư vấn Genscape cho rằng lượng dầu lưu kho của Mỹ tuần này có thể tăng thêm 1 triệu thùng.
Các nhà phân tích trong khảo sát của Wall Street Journal dự đoán lượng dầu lưu kho của Mỹ giảm 1,6 triệu thùng nhưng cho rằng nguồn cung xăng và sản phẩm lọc dầu tăng 500.000 thùng.
Trong vòng một tháng qua, giá dầu chủ yếu nằm trong xu hướng giảm, trong bối cảnh nguồn cung xăng luôn ở mức cao bất chấp việc nước Mỹ đang bước vào mùa du lịch cao điểm.
Chuyên gia phân tích Robbie Fraser đến từ Schneider Electric cho hay sau khi tăng vọt lên trên mức 50 USD/thùng hồi đầu tháng Sáu vừa qua, giá dầu tiếp tục chịu áp lực đi xuống giữa bối cảnh nguồn cung của các chế phẩm dầu mỏ tăng cao.
Trên thị trường kim loại quý, vàng tăng giá trở lại khi USD giảm trong bối cảnh Fed bước vào kỳ họp 2 ngày.
Giá vàng giao ngay tăng 0,4% lên 1.319,96 USD/ounce, trong khi đó giá vàng giao tháng 8/2016 trên sàn Comex (New York) tăng 1,3 USD, tương đương 0,1%, lên 1.320,8 USD/ounce.
USD giảm 0,5% so với các đồng tiền chủ chốt trong giỏ tiền tệ, chủ yếu do sự hồi phục của yên sau khi giới đầu tư đánh giá lại đồn đoán về mức độ của biện pháp kích thích mà chính phủ Nhật Bản sẽ bơm vào nền kinh tế.
Số liệu kinh tế Mỹ công bố hôm thứ Ba 26/7 khá tích cực với niềm tin tiêu dùng trong tháng 7 ổn định trong khi doanh số bán nhà mới xây trong tháng 6 lên cao nhất gần 8 năm rưỡi, cho thấy nền kinh tế tiếp tục đà tăng trưởng.
Fed sẽ ra tuyên bố phiên họp vào lúc 14h00 thứ Tư 27/7 (giờ địa phương). Fed được dự đoán sẽ giữ nguyên lãi suất trong phiên họp tuần này và để ngỏ khả năng tăng lãi suất vào tháng 9 hoặc tháng 12 khi các nhà hoạch định chính sách chờ thêm bằng chứng cho thấy lạm phát được cải thiện.
Nhập khẩu ròng vàng của Trung Quốc - nước tiêu thụ lớn nhất thế giới - qua Hong Kong trong tháng 6 giảm 38,5%, theo số liệu công bố hôm thứ Ba 26/7.
Trong số các kim loại quý khác, giá bạc giao ngay tăng 0,5% lên 19,63 USD/ounce, giá palladium tăng 1,4% lên 694,3 USD/ounce và giá bạch kim tăng 1% lên 1.089 USD/ounce.
Trên thị trường nông sản, cà phê đồng loạt tăng giá. Tại London, Robusta tăng 25-26 USD/tấn, trong khi đó tại New York, arabica tăng 0,5-0,65 cent/lb.

Giá hàng hóa thế giới

 

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

42,92

-0,21

-0,5%

Dầu Brent

USD/thùng

44,87

+0,15

+0,3%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

28.090,00

-40,00

-0,14%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,73

-0,01

-0,47%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

133,60

+0,24

+0,18%

Dầu đốt

US cent/gallon

132,35

+0,07

+0,05%

Dầu khí

USD/tấn

393,00

-1,75

-0,44%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

39.700,00

-270,00

-0,68%

Vàng New York

USD/ounce

1.318,40

+1,10

+0,08%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.419,00

+14,00

+0,32%

Bạc New York

USD/ounce

19,68

+0,03

+0,17%

Bạc TOCOM

JPY/g

65,90

+0,20

+0,30%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

1.094,56

+10,32

+0,95%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

694,27

+7,97

+1,16%

Đồng New York

US cent/lb

222,70

+1,00

+0,45%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

4.899,00

-21,00

-0,43%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

1.605,00

-6,00

-0,37%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.249,00

+4,00

+0,18%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

17.775,00

+25,00

+0,14%

Ngô

US cent/bushel

343,00

+1,75

+0,51%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

419,50

-9,50

-2,21%

Lúa mạch

US cent/bushel

197,50

-2,00

-1,00%

Gạo thô

USD/cwt

10,10

-0,26

-2,56%

Đậu tương

US cent/bushel

980,50

+14,25

+1,47%

Khô đậu tương

USD/tấn

340,30

+5,80

+1,73%

Dầu đậu tương

US cent/lb

30,14

+0,18

+0,60%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

447,90

+4,00

+0,90%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.848,00

-6,00

-0,21%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

141,40

+0,30

+0,21%

Đường thô

US cent/lb

19,57

-0,32

-1,61%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

193,10

+5,75

+3,07%

Bông

US cent/lb

73,83

+1,54

+2,13%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

330,70

+1,00

+0,30%

Cao su TOCOM

JPY/kg

154,00

+0,90

+0,59%

Ethanol CME

USD/gallon

1,47

+0,00

+0,27%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg