Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm do triển vọng nguồn cung từ Iran có thể tăng lên sau thông tin từ Tổng thống Pháp Emmanuel Macron làm dấy lên hy vọng về một thỏa thuận giữa Washington và Tehran. Tuy nhiên, đà giảm của giá dầu đã bị hạn chế bởi kỳ vọng Mỹ và Trung Quốc sẽ sớm đạt được thỏa thuận thương mại.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu Brent giảm 64 US cent tương đương 1,1% xuống 58,70 USD/thùng, sau khi có lúc đạt mức 60,17 USD; dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) giảm 53 US cent tương đương 1% xuống 53,64 USD/thùng.
Giá dầu thô sụt giảm sau khi Tổng thống Pháp Emmanuel Macron cho biết công tác chuẩn bị cho cuộc gặp giữa Tổng thống Iran Hassan Rouhani và Tổng thống Mỹ Donald Trump trong vài tuần tới đang được tiến hành, nhằm tìm kiếm giải pháp cho xung đột Mỹ-Iran.
Năm 2018, Tổng thống Trump đã rút Mỹ ra khỏi thỏa thuận hạt nhân mà Iran ký kết với các cường quốc thế giới hồi tháng 7/2015 và cho biết ông muốn một thỏa thuận lớn hơn nhằm không chỉ hạn chế các hoạt động làm giàu urani của Iran mà còn ngăn chặn Tehran hỗ trợ các nhóm quân sự ở Syria, Iraq, Yemen và Lebanon, cũng như kiềm chế chương trình phát triển tên lửa đạn đạo của quốc gia Trung Đông này.
Tháng 5/2019, Tổng thống Trump cũng đã siết chặt thêm các lệnh trừng phạt đối với hoạt động xuất khẩu dầu mỏ của Iran.
Giá dầu đã giảm khoảng 20% kể từ mức cao nhất của năm 2019 ghi nhận được hồi tháng Tư, một phần bởi những lo ngại rằng xung đột thương mại Mỹ-Trung đang làm tổn thương kinh tế toàn cầu, qua đó tác động đến nhu cầu “vàng đen”.
Tuy nhiên, đà giảm của giá dầu trong phiên vừa qua được hạn chế bởi Mỹ và Trung Quốc tỏ ra chân thành muốn giải quyết những xung đột về thương mại. Sau Hội nghị thượng đỉnh G7 tại Biarritz (Pháp), ông Trump nói ông tin tưởng Trung Quốc đang mong muốn đạt được một thỏa thuận. Trong khi đó, Phó Thủ tướng Trung Quốc Lưu Hạc (Liu He), trưởng đoàn đám phán Trung Quốc, cho biết Trung Quốc sẵn sàng giải quyết tranh chấp thông qua các cuộc đàm phán “bình tĩnh” và phản đối bất kỳ hành động làm gia tăng căng thẳng thương mại nào.
Tuần trước, Mỹ thông báo tăng thêm thuế đối với lượng hàng hóa giá trị 250 tỷ USD của Trung Quốc từ 25% lên 30% từ ngày 1/10 tới, cũng như tăng mức thuế dự kiến áp lên lượng hàng hóa còn lại trị giá 300 tỷ USD nhập khẩu từ Trung Quốc từ 10% lên 15%, sau khi Trung Quốc công bố mức thuế “trả đũa” lên lượng hàng hóa trị giá khoảng 75 tỷ USD nhập từ Mỹ. Tổng thống Mỹ Donald Trump cũng đang yêu cầu các công ty nước này xem xét đóng cửa hoạt động tại Trung Quốc và sản xuất hàng hóa tại Mỹ.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng mạnh lên mức cao nhất trong vòng 6 năm khi các nhà đầu tư tìm kiếm “tài sản an toàn” trước một loạt bất ổn, như căng thẳng thương mại leo thang giữa Mỹ và Trung Quốc và triển vọng mong manh của kinh tế toàn cầu.
Cuối phiên giao dịch, giá vàng giao ngay đã tăng 0,3% lên 1.529,90 USD/ounce. Trước đó, lúc đầu phiên, kim loại quý này đã giao dịch ở mức cao nhất kể từ tháng 4/2013 là 1.554,56 USD/ounce. Giá vàng giao sau đi ngang ở mức 1.537,20 USD/ounce. Vàng được giao dịch bằng đồng euro và đô la Australia cũng tăng lên các mức cao kỷ lục.
Cuộc chiến thương mại dai dẳng giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới đã làm các thị trường “chao đảo” trong hơn một năm qua và làm dấy lên mối lo ngại về nguy cơ suy giảm kinh tế toàn cầu.
Số liệu cho thấy lượng đơn hàng mới đối với tư liệu sản xuất từ Mỹ trong tháng 7/2019 tăng khiêm tốn, trong khi xuất khẩu giảm mạnh nhất trong gần ba năm qua, qua đó cho thấy tình trạng yếu kém trong đầu tư kinh doanh vẫn tiếp diễn trong quý III/2019.
Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) Jerome Powell ngày 23/8/2019 cho biết cơ quan này sẽ “hành động thích hợp” để duy trì đà tăng hiện nay của nền kinh tế.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giao ngay tăng 1,6% lên 17,67 USD/ounce, sau khi chạm mức cao nhất kể từ tháng 9/2017 là 17,77 USD/ounce lúc đầu phiên; giá bạch kim giao ngay không đổi ở mức 853,40 USD/ounce, còn giá palađi giao ngay tăng 0,8% lên 1.471,70 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá đồng trên thị trường Trung Quốc đã giảm xuống mức thấp nhất 3 tuần do triển vọng nhu cầu yếu đi bởi xung đột thương mại Mỹ - Trung thêm căng thẳng trong thời gian gần đây.
Trong phiên giao dịch vừa qua, giá đồng trên sàn Thượng Hải có lúc giảm 1% xuống 45.830 CNY (6.461,48 USD)/tấn, thấp nhất kể từ 5/8/2019 và kết thúc ở mức giảm 0,6%. Đây là phiên giảm thứ 3 liên tiếp.
Giá sắt thép trên thị trường Trung Quốc giảm trong phiên vừa qua, trong đó thép cây thấp nhất trong vòng hơn 6 tháng. Thị trường tài chính toàn cầu ảm đạm do lo ngại căng thẳng thương mại Mỹ - Trung leo thang đang tác động tiêu cực lên thị trường này. Xung đột căng thẳng có thể khiến nhu cầu ở Trung Quốc sụt giảm.
Trên sàn Thượng Hải, thép cây kỳ hạn tháng 1/2020 giảm 1,9% xuống 3.372 CNY (475,41 USD)/tấn, thấp nhất kể từ 20/2/2019. Thép cuộn cán nóng cũng giảm 1,7% xuống 3.660 CNY/tấn.
Quặng sắt trên sàn Đại Liên (kỳ hạn tháng 1/2020) giảm 1,7% xuống 593,5 CNY/tấn giữa bối cảnh lưu trữ tại các cảng biển Trung Quốc tăng cao. Quặng 62% nhập khẩu vào Trung Quốc duy trì ở 86,5 USD/tấn – thấp nhất kể từ 29/3/2019. Trên sàn giao dịch Singapore, quặng sắt kỳ hạn tháng 9/2019 giảm 4,6% xuống xuoong1 USD/tấn.
Trên thị trường nông sản, giá đậu tương và ngô trên sàn Chicago tăng trong phiên vừa qua do hy vọng vào thỏa thuận thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc. Giá đậu tương đã tăng 1,1% lên 8,67-1/4, ngô tăng 0,1% lên 3,68-1/4 USD/bushel. Riêng lúa mì giảm giá. Tại Chicago, lúa mì giảm 0,6% xuống 4,75-1/4 USD/bushel.
Giá đường giảm sau mấy phiên hồi phục gần đây. Đường thô kỳ hạn tháng 10/2019 giảm 0,04 US cent tương đương 0,4% trong phiên vừa qua, xuống 11,43 US cent/lb.
Giá cà phê arabica tăng lên mức cao nhất trong vòng hơn 1 tuần bởi dự báo sản lượng ở Brazil và Trung Mỹ sẽ giảm, mặc dù đồng real Brazil yếu đi cản trở đà tăng. Lúc cuối phiên, arabica kỳ hạn tháng 12/2019 tăng 1,45 US cent tương đương 1,5% lên 97,50 US cent/lb.
Liên đoàn các hợp tác xã Brazil ngày 26/8/2019 cho biết, thời tiết xấu có thể ảnh hưởng tiêu cực tới sản lượng cà phê nước này trong năm 2019 và 2020. Trong khi đó, các thương gia dự báo sản lượng ở Trung Mỹ sẽ giảm do thiếu mưa và nông dân giảm đầu tư phân bón cho loại cây này khi giá thấp kéo dài.
Tuy nhiên, đồng real chạm mức thấp nhất 11 tháng so với USD sau thông tin thâm hụt tài khoản vãng lai tháng 7 của Brazil lên tới 9 tỷ USD đã cản trở giá arabica tăng mạnh.
Giá cao su trên sàn Tokyo chạm mức thấp nhất 9 tháng do căng thẳng thương mại Mỹ - Trung nóng lên, làm gia tăng lo ngại về kinh tế toàn cầu. Đồng yen trượt giá và thị trường chứng khoán Tokyo giảm điểm càng khích lệ hoạt động bán cao su, nhất là lúc đầu phiên giao dịch.
Kết thúc phiên vừa qua, cao su kỳ hạn tháng 1/2020 trên sàn TOCOM giảm 3,6 JPY tương đương 2,2% xuống 162,2 JPY (1,54 USD)/kg, đầu phiên có lúc xuống thấp nhất kể từ 26/11/2018 là 155,4 JPY/kg.
Tuy nhiên, trên sàn Thượng Hải, giá cao su tăng bởi thông tin Trung Quốc sẵn sàng giải quyết tranh chấp thương mại với Mỹ thông qua đàm phán. Nhiều nhà đầu tư Trung Quốc cũng kỳ vọng vào chính sách kích thích kinh tế của nước này, nhất là kế hoạch nới lỏng những quy định về vốn ở các dự án hạ tầng cơ sở Trung Quốc trong 6 tháng cuối năm 2019 để gia tăng đầu tư và vực dậy nền kinh tế nhằm chống lại những cơn "gió ngược".
Giá hàng hóa thế giới

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

53,64

-0,53

-1%

Dầu Brent

USD/thùng

58,700

-0,64

-1,1%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

35.810,00

+310,00

+0,87%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,23

0,00

-0,04%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

162,50

+0,85

+0,53%

Dầu đốt

US cent/gallon

180,05

+0,81

+0,45%

Dầu khí

USD/tấn

555,00

-3,00

-0,54%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

54.010,00

+280,00

+0,52%

Vàng New York

USD/ounce

1.539,20

+2,00

+0,13%

Vàng TOCOM

JPY/g

5.191,00

-15,00

-0,29%

Bạc New York

USD/ounce

17,82

+0,03

+0,17%

Bạc TOCOM

JPY/g

59,90

+0,20

+0,34%

Bạch kim

USD/ounce

859,10

+2,99

+0,35%

Palađi

USD/ounce

1.480,11

-0,75

-0,05%

Đồng New York

US cent/lb

254,50

-0,50

-0,20%

Đồng LME

USD/tấn

5.633,00

-50,00

-0,88%

Nhôm LME

USD/tấn

1.770,00

+4,00

+0,23%

Kẽm LME

USD/tấn

2.254,00

+9,00

+0,40%

Thiếc LME

USD/tấn

15.880,00

-295,00

-1,82%

Ngô

US cent/bushel

368,25

0,00

0,00%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

473,75

-1,50

-0,32%

Lúa mạch

US cent/bushel

268,75

-1,25

-0,46%

Gạo thô

USD/cwt

11,53

+0,25

+2,17%

Đậu tương

US cent/bushel

864,50

-2,75

-0,32%

Khô đậu tương

USD/tấn

297,10

-1,50

-0,50%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,66

-0,03

-0,10%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

448,20

-0,20

-0,04%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.238,00

0,00

0,00%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

97,50

+1,45

+1,51%

Đường thô

US cent/lb

11,43

-0,04

-0,35%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

101,20

+2,90

+2,95%

Bông

US cent/lb

57,95

+0,13

+0,22%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

363,30

+3,40

+0,94%

Cao su TOCOM

JPY/kg

163,90

+1,70

+1,05%

Ethanol CME

USD/gallon

1,31

-0,01

-0,45%

Nguồn: VITIC/Bloomberg, Reuters