Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm sau báo cáo cho hay sản lượng của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) tăng trong tháng 7.
Đóng cửa phiên giao dịch, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 9/2017 trên sàn New York giảm 1,01 USD xuống còn 49,16 USD/thùng; dầu Brent giao tháng 10/2017 trên sàn London giảm 0,94 USD xuống 51,78 USD/thùng.
Hãng Petro-Logistics chuyên theo dõi số liệu về các tàu chở dầu cho biết sản lượng dầu của OPEC đã tăng 145.000 thùng/ngày vào tháng trước. Thông tin này được đưa ra trong bối cảnh các nhà sản xuất dầu chủ chốt trên thế giới đã nhất trí cắt giảm 1,8 triệu thùng tổng cộng mỗi ngày cho đến tháng 3/2018 nhằm làm giảm sản lượng dầu trên toàn cầu để giúp cân bằng thị trường và hỗ trợ giá "vàng đen".
Thông tin từ ngân hàng BNP Paribas của Pháp cho hay nhu cầu tiêu thụ xăng của Mỹ hiện đã leo lên các mức cao nhất của năm 2016, trong khi dự trữ dầu của nước này, đặc biệt là tại khu vực bờ Đông, lại suy giảm đã giúp thị trường dầu khởi sắc hơn trong vài phiên gần đây, khi mối lo ngại về tình trạng dư thừa nguồn cung cũng dần dịu xuống. Cụ thể, dự trữ dầu thô của Mỹ hiện đã giảm 10% từ các mức “đỉnh” xác lập hồi cuối tháng Ba xuống 483,4 triệu thùng.
Tuy vậy, xu hướng giá dầu tăng vẫn không bền vững bởi những dấu hiệu cho thấy nguồn cung dồi dào. Theo khảo sát của hãng tin Anh Reuters, sản lượng dầu của OPEC đã tăng 90.000 thùng/ngày trong tháng Bảy vừa qua, lên mức cao nhất kể từ đầu năm tới nay là 33 triệu thùng/ngày.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng lên mức cao kỷ lục 7 tuần sau khi những số liệu mới nhất về kinh tế Mỹ khiến giới đầu tư băn khoăn liệu Fed có nâng lãi suất vào thời gian tới hay không.
Tại New York, giá vàng giao ngay đã tăng 0,3% lên 1.273,26 USD/ounce, sau khi đã có lúc chạm mức cao nhất kể từ ngày 14/6 là 1.273,97 USD/ounce trong cùng phiên. Tính chung cả tháng Bảy, giá kim loại quý này đã tăng 2,2% - mức tăng theo tháng lớn nhất kể từ tháng 2/2017. Vàng Mỹ giao kỳ hạn vào tháng Tám cũng tăng 0,5% và chốt phiên ở mức 1.279,4 USD/ounce.
Đồng USD hồi phục nhẹ sau khi đã rơi xuống mức thấp của 15 tháng, do những bất ổn chính trị và những số liệu kinh tế kém tươi sáng tại Mỹ. Điều này khiến cho triển vọng về chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) càng trở nên không chắc chắn.
Nhà phân tích Suki Cooper của Standard Chartered cho biết thị trường kỳ vọng rằng mức lãi suất hiện tại sẽ được Fed giữ nguyên trong những tháng tới, và có thể sẽ tăng thêm 0,25 điểm phần trăm vào tháng 12/2017. Bên cạnh đó, việc cơ quan này thu hẹp bản cân đối kế toán tài chính một cách từ từ cũng tạo môi trường thuận lợi cho giá vàng.
Về những kim loại quý khác, giá bạc phiên này giảm 0,2% xuống 16,75 USD/ounce; giá bạch kim tiến thêm 1,2% lên 947,1 USD/ounce, sau khi đã có lúc chạm mức cao nhất kể từ ngày 14/6 là 947,6 USD/ounce.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica lúc đóng cửa giảm từ mức cao nhất 3 tháng rưỡi sau 4 phiên tăng giá trước đó, trong khi cacao giảm mạnh từ mức cao nhất 4 tháng.
Arabica giao tháng 9 giá giảm 1,4 US cent tương đương 1% xuống 1,3785 USD/lb, sau khi có lúc chạm mức cao nhất kể từ 20/4 là 1,3955 USD. Robusta giao cùng kỳ hạn giá giảm 13 USD tương đương 0,6% xuống 2.110 USD/tấn.
Giá đường thô giao tháng 10 giá giảm 0,03 US cent tương đương 0,2% xuống 14,88 US cent/lb, sau khi hợp đồng giao ngay chạm 15,16 US cent, cao nhất kể từ 31/5. Đường trắng giao tháng 10 giá giảm 3 USD tương đương 0,8% xuống 399,30 USD/tấn.
Giá hàng hóa thế giới

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

49,16

-1,01

-1,77%

Dầu Brent

USD/thùng

51,78

-0,94

1,73%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

35.030,00

-740,00

-2,07%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,81

-0,01

-0,25%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

165,49

-0,64

-0,39%

Dầu đốt

US cent/gallon

163,65

-0,48

-0,29%

Dầu khí

USD/tấn

482,75

+1,00

+0,21%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

49.590,00

-630,00

-1,25%

Vàng New York

USD/ounce

1.272,80

+6,60

+0,52%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.489,00

+2,00

+0,04%

Bạc New York

USD/ounce

16,63

-0,13

-0,80%

Bạc TOCOM

JPY/g

59,40

-0,20

-0,34%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

943,57

-1,95

-0,21%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

892,03

-2,84

-0,32%

Đồng New York

US cent/lb

287,60

-0,50

-0,17%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.345,00

-24,00

-0,38%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

1.907,00

-11,00

-0,57%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.780,00

-15,00

-0,54%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

20.525,00

-125,00

-0,61%

Ngô

US cent/bushel

378,75

+2,25

+0,60%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

462,75

+1,50

+0,33%

Lúa mạch

US cent/bushel

281,50

-4,75

-1,66%

Gạo thô

USD/cwt

12,42

+0,05

+0,36%

Đậu tương

US cent/bushel

973,50

+1,75

+0,18%

Khô đậu tương

USD/tấn

314,80

+0,30

+0,10%

Dầu đậu tương

US cent/lb

34,39

+0,11

+0,32%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

498,40

0,00

0,00%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.023,00

-37,00

-1,80%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

137,85

-1,40

-1,01%

Đường thô

US cent/lb

14,88

-0,03

-0,20%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

132,10

+0,45

+0,34%

Bông

US cent/lb

69,45

+0,14

+0,20%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

380,90

+2,60

+0,69%

Cao su TOCOM

JPY/kg

202,20

-2,70

-1,32%

Ethanol CME

USD/gallon

1,54

-0,01

-0,65%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg