Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng với niềm hy vọng nguồn cung sẽ thắt chặt hơn khi thỏa thuận cắt giảm sản lượng đầu tiên giữa Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) và các nhà sản xuất không thuộc OPEC có hiệu lực vào ngày Chủ nhật (1/1/2017).
Tại thị trường New York kết thúc phiên giao dịch giá dầu ngọt nhẹ (WTI) tăng 88 US cent (1,7%) lên 53,90 USD/thùng, giá dầu Brent tăng 93 US cent (1,7%) lên 56,09 USD/thùng.
Trong phiên giao dịch ngày 27/12, giá dầu Brent tăng 93 US cent (1,7%) lên 56,09 USD/thùng.
Ngày 1/1/2017 sẽ là ngày thỏa thuận cắt giảm gần 1,8 triệu thùng/ngày giữa các nước trong và ngoài OPEC chính thức được thực thi. Giá dầu WTI đã tăng 25% kể từ giữa tháng 11/2016 nhờ kỳ vọng OPEC cắt giảm nguồn cung.
Theo nhà kinh tế cấp cao của Mitsubishi UFJ Research & Consulting ở Tokyo, Tomomichi Akuta, thỏa thuận cắt giảm sản lượng của OPEC sắp được thực hiện, nhưng việc gần như không có bất cứ tin tức nào về các nước sản xuất khiến thị trường kém sôi động.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng lên mức cao nhất 2 tuần sau kỳ nghỉ Giáng Sinh sau khi tiếp nhận báo cáo cho thấy lạm phát của Nhật Bản tiếp tục giảm. Các thị trường Anh, Australia, New Zealand và Canada tiếp tục đóng cửa trong phiên này.
Giá vàng giao ngay tại thị trường Mỹ tăng 0,5%, lên 1.139,42 USD/ounce, sau khi có lúc chạm mức cao nhất kể từ ngày 14/12 là 1.148,98 USD/ounce vào giữa phiên. Trong khi đó, giá vàng giao tháng 2/2017 tăng 5,2 USD (0,46%), lên 1.138,80 USD/ounce.
Biên độ giao dịch trong phiên này còn hẹp, giữa bối cảnh giới đầu tư tại Mỹ vừa trở lại thị trường sau chuỗi ngày nghỉ lễ Giáng Sinh kéo dài từ cuối tuần trước, trong khi thị trường London tiếp tục đóng cửa.
Hầu hết các nhà phân tích đều cho rằng mối lo ngại về "sức khỏe" của các ngân hàng châu Âu và tâm lý bất an xung quanh các chính sách của tổng thống mới đắc cử của Mỹ Donald Trump sẽ hỗ trợ tích cực cho giá vàng trong năm 2017. Tuy nhiên, giá vàng có thể giảm trong ngắn hạn nếu lãi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ tiếp tục đi lên.
Báo cáo mới đây từ Trung Quốc cho hay lợi nhuận ngành công nghiệp của nước này trong tháng 11 vừa qua đã đạt mức cao nhất ba tháng, cho thấy nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đang trên đà phục hồi.
Tuy nhiên, tại Nhật Bản, chỉ số giá tiêu dùng lõi lại giảm tháng thứ chín liên tiếp trong tháng 11/2016 do chi tiêu hộ gia đình giảm, giữa bối cảnh nước này vẫn đang "chật vật" tìm cách thoát khỏi tình trạng giảm phát và vực dậy nền kinh tế.
Đà tăng của giá vàng trong phiên này bị hạn chế phần nào bởi sức mạnh của đồng USD không có dấu hiệu đi xuống. Trong phiên này, đồng bạc xanh lên giá so với cả đồng yen và đồng euro nhờ số liệu mới nhất cho thấy chỉ số giá nhà trung bình tại 20 thành phố lớn của Mỹ của S&P Case-Shiller trong tháng Mười tăng 0,6% so với tháng trước đó và tăng 5,1% so với cùng kỳ năm 2015.
Trong khi đó, chỉ số giá nhà quốc gia của Mỹ cũng tăng 5,6% trong tháng Mười so với cùng kỳ năm ngoái và tăng 5,4% so với tháng Chín.
Trên thị trường nông sản, cà phê arabica xuống mức thấp nhất 6 tuần trong khi đường tăng giá.
Arabica giao tháng 1/2016 giảm 1,95 US cent hay 1,43% lên 1,342 USD/lb. Trong phiên có lúc giá xuống mức thấp nhất 6 tháng là 1,335 USD.
Xuất khẩu cà phê El Salvador tăng 26% trong tháng qua do sản lượng hồi phục sau dịch nấm bệnh và khô hạn.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

53,90

+0,88

+1,7%

Dầu Brent

USD/thùng

56,09

+0,93

+1,7%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

40.320,00

+720,00

+1,82%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,70

-0,06

-1,60%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

165,41

+0,13

+0,08%

Dầu đốt

US cent/gallon

169,85

-0,09

-0,05%

Dầu khí

USD/tấn

502,25

-2,25

-0,45%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

49.880,00

+940,00

+1,92%

Vàng New York

USD/ounce

1.142,30

+3,50

+0,31%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.294,00

+24,00

+0,56%

Bạc New York

USD/ounce

16,02

+0,03

+0,19%

Bạc TOCOM

JPY/g

60,00

+0,50

+0,84%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

907,25

+3,55

+0,39%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

674,92

+3,00

+0,45%

Đồng New York

US cent/lb

253,65

+2,10

+0,83%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

--

-49,00

-0,89%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

--

-3,00

-0,17%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

--

-53,00

-2,02%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

--

+160,00

+0,76%

Ngô

US cent/bushel

354,25

-0,75

-0,21%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

410,00

+0,50

+0,12%

Lúa mạch

US cent/bushel

228,50

0,00

0,00%

Gạo thô

USD/cwt

9,56

+0,03

+0,26%

Đậu tương

US cent/bushel

1.024,00

-0,25

-0,02%

Khô đậu tương

USD/tấn

321,40

-0,20

-0,06%

Dầu đậu tương

US cent/lb

35,39

-0,01

-0,03%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

517,10

+3,70

+0,72%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.237,00

-27,00

-1,19%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

134,20

-1,95

-1,43%

Đường thô

US cent/lb

18,54

+0,39

+2,15%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

189,30

-0,15

-0,08%

Bông

US cent/lb

69,74

-0,13

-0,19%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

316,30

-2,30

-0,72%

Cao su TOCOM

JPY/kg

261,50

+4,30

+1,67%

Ethanol CME

USD/gallon

1,52

0,00

-0,33%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg