Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm bởi dự trữ dầu của Mỹ tăng trong tuần vừa qua.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 9/2018 giảm 1,10 USD xuống 67,66 USD/thùng; dầu Brent giao tháng 10/2018 cũng giảm 1,82 USD xuống 72,39 USD/thùng.
Báo cáo hàng tuần của Cơ quan Thông tin năng lượng Mỹ cho biết, dự trữ dầu thô của nước này đã tăng 3,8 triệu thùng trong tuần tính đến ngày 27/7, trái ngược với dự báo của thị trường là giảm 2,8 triệu thùng.
 Các nhà phân tích cho biết thị trường dầu mỏ toàn cầu sẽ không thiếu nguồn cung vào cuối năm nay, điều đã tạo sức ép lên giá dầu thời gian qua.
Sản lượng của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ và Nga trong tháng 7/2018 ước tính đều tăng sau khi các nước này nhất trí nâng sản lượng để giúp thị trường cân bằng sau đợt giá tăng mạnh trước đó. Kết quả khảo sát của hãng tin Reuters cho hay trong tháng 7/2018 Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ ( OPEC) đã tăng sản lượng thêm 70.000 thùng/ngày lên 32,64 triệu thùng/ngày, mức cao mới kể từ đầu năm đến nay. Trong khi đó, căng thẳng thương mại trên toàn cầu có thể kìm hãm tăng trưởng kinh tế. Trung Quốc mới đây tuyên bố sẽ đáp trả Mỹ sau khi Whashington thông báo nâng thuế đối với 200 tỷ USD hàng hóa nhập từ Trung Quốc.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm do USD mạnh lên sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) giữ nguyên lãi suất đúng như dự kiến.
 Giá vàng giao ngay giảm 0,3% xuống 1.219,60 USD/ounce, gần mức thấp của một năm là 1.211,08 USD/ounce ghi nhận trong phiên ngày 19/7; vàng giao sau giảm 6 USD (0,5%) xuống 1.227,60 USD/ounce.
 Sau cuộc họp hai ngày, Fed cho rằng “tình trạng sức khỏe” của nền kinh tế Mỹ trong trạng thái tốt, và vẫn giữ lộ trình nâng lãi suất vào tháng Chín tới. Đồng USD, đồng tiền mà vàng được định giá, đã bị “giới hạn” mức tăng so với rổ tiền tệ chính sau thông báo của Fed. Trước đó lúc đầu phiên, đồng bạc xanh mạnh sau khi một nguồn tin liên quan đến các kế hoạch của chính quyền Tổng thống Trump cho hay Nhà Trắng sắp sửa áp thuế cao hơn lên lượng hàng hóa trị giá 200 tỷ USD của Trung Quốc.
Carlo Alberto De Casa, chuyên gia phân tích thuộc ActivTrade, cho hay giá vàng thường có xu hướng giảm khi đồng USD mạnh lên, song kim loại quý này không thể “lấy lại sức” khi đồng bạc xanh giảm xuống, qua đó cho thấy có rất ít nhà đầu tư hứng thú với vàng trong giai đoạn này.
Đối với những kim loại quý khác, giá bạc giao ngay giảm 0,6% xuống 15,42 USD/ounce. Giá bạch kim giao ngay giảm 2,1% xuống 817,24 USD/ounce, còn giá palađi giảm 1,3% xuống 917 USD/ounce.
Đối với kim loại công nghiệp, giá đồng giảm do căng thẳng thương mại gia tăng giữa Mỹ và Trung Quốc. Đồng giao sau 3 tháng giảm 2% xuống 6.172 USD/tấn, sau khi đã giảm 4,9% trong tháng 7/2018.
Tại Trung Quốc, giá thép trên sàn Thượng Hải tăng lên mức cao chưa từng có kể từ 2013, khởi đầu tháng 8/2018 đầy mạnh mẽ sau khi đã tăng 10% trong tháng 7/2018, trong bối cảnh Bắc Kinh tiếp tục chiến dịch kiềm chế nguồn cung để ngăn chặn ô nhiễm môi trường.
Thép cây kỳ hạn tháng 10/2018 trên sàn Thượng Hải tăng 1,2% lên 4.204 NDT (617 USD)/tấn vào cuối phiên, sau khi có lúc đạt 4.243 NDT, cao nhất kể từ tháng 2/2013.
Trong khi nguồn cung hạn hẹp, nhu cầu thép tại Trung Quốc vẫn vững nhờ các dự án hạ tầng cơ sở của Chính phủ.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê biến động thất thường trong phiên vừa qua, arabica giao tháng 9/2018 giảm 1,85 US cent tương đương 1,7% xuống 1,0805 USD/lb, trong khi robusta giao cùng kỳ hạn tăng 6 USD tương đương 0,4% lên 1.650 USD/tấn vào cuối phiên sau khi có lúc chạm mức thấp nhất kể từ 6/7/2018 là 1.631 USD/tấn.
Giá đường thô kỳ hạn giao tháng 10/2018 giảm 0,07 US cent (0,7%) xuống 10,48 US cent/lb vào cuối phiên, sau khi có lúc chỉ 10,39 US cent, mức thấp nhất kể từ cuối tháng 8/2015. Đường trắng giao cùng kỳ hạn cũng giảm 3,4 USD (1,1%) xuống 314,50 USD/tấn.
Thị trường tiếp tục chịu sức ép bởi dự báo nguồn cung gia tăng trên toàn cầu.
Giá cacao giảm khá mạnh sau khi phá vỡ ngưỡng giá kỹ thuật. Cacao trên sàn London giảm 60 GBP tương đương 3,7% xuống 1.583 GBP/tấn - mức thấp nhất kể từ 1/3/2018, trong khi tại sàn New York giảm 91 USD tương đương 4,1% xuống 2.129 USD/tấn – thấp nhất kể từ cuối tháng 2/2018. Tháng 7/2018, mặt hàng này đã giảm 10%, nhiều nhất kể từ tháng 4/2017 mặc dù có một số dấu hiệu cho thấy nhu cầu cải thiện.
Mức trừ lùi của các hợp đồng kỳ hạn giao gần nới rộng, của hợp đồng giao tháng 9/2018 so với tháng 10/2018 trên sàn London tăng lên 54 GBP, còn sàn New York lên 62 USD, cao nhất trong lịch sử của cả 2 hợp đồng này.
Đối với ngũ cốc, giá đậu tương ngô đều giảm trong phiên vừa qua do lo ngại căng thẳng Mỹ - Trung gia tăng. Đậu tương kỳ hạn tháng 11/2018 trên sàn Chicago giảm 1,9% xuống 9,01-3/4 USD/bushel, trong khi ngô giao tháng 12/2018 (hợp đồng giao dịch nhiều nhất) giảm 1,8% xuống 3,79-1/2 USD/bushel. Hai thị trường này đang trong giai đoạn biến động mạnh. Chỉ một phiên trước (thứ Ba ngày 31/7/2018), đậu tương tăng giá tới 3% lên mức cao nhất 6 tuần bởi hy vọng Washington và Beijing sẽ khởi động lại các vòng đàm phán về thuế.
Cung ngô Mỹ năm tới dự báo sẽ giảm 23%, nhưng tương lai của thị trường này vẫn bấp bênh kể từ khi Mỹ và Trung Quốc đối đầu trong cuộc chiến thương mại.
Hai nền kinh tế lớn nhất thế giới đã hút nhau vào cuộc chiến, ở đó Bắc Kinh áp thuế 25% đối với đậu tương Mỹ, buộc Chính phủ Mỹ phải cam kết dành 12 tỷ USD trợ cấp cho nông dân của mình để giảm thiểu thiệt hại.
Những năm gần đây, nông dân Mỹ tăng trồng đậu tương bởi lợi nhuận cao hơn cây ngô, vì đậu tương Mỹ đáp ứng nhu cầu bùng nổ từ thị trường Trung Quốc. Năm 2017, đậu tương chiếm khoảng 1/2 trị giá nông sản Mỹ xuất khẩu sang Trung Quốc – chủ yếu sử dụng làm thức ăn nuôi lợn.
Tỷ lệ giá đậu tương giao tháng 11/2018 và ngô giao tháng 12/2018 trên sàn Chicago
Giá lúa mì giá tăng phiên thứ 3 liên tiếp do lo ngại thiếu cung lúa mì trên toàn cầu. Hợp đồng kỳ hạn giao tháng 9/2018 trên sàn Chicago lúc đóng cửa tăng 0,8 US cent lên 5,58-1/4 USD/bushel, sau khi có lúc đạt mức cao nhất kể từ tháng 7/2015. Thị trường lúa mì dự đoán nhu cầu trên toàn cầu có thể sẽ chuyển hướng sang Mỹ vì hạn hán làm giảm cung ở những nơi khác. Các dự đoán về sản lượng ở Nga, Liên minh châu Âu và Australia đều đã bị điều chỉnh giảm. Taị Đức, nước sản xuất lớn thứ 2 EU, sản lượng vụ 2018 dự báo giảm 20% xuống khoảng 36 triệu tấn do khô hạn.
Giá cao su tại Tokyo và Thượng Hải cùng giảm trong phiên vừa qua do tồn trữ lớn, nhu cầu yếu và giá dầu thô giảm. Hợp đồng giao tháng 1/2019 tại Tokyo giảm 0,5 JPY (0,0045 USD) xuống 169,9 JPY/kg; hợp đồng giao tháng 9/2018 trên sàn Thượng Hải giảm 85 NDT (12,49 USD) xuống 10.220 NDT/tấn. Cùng xu hướng, giá trên sàn Singapore cũng giảm 0,6 US cent xuống 130,9 US cent/kg (giao tháng 9/2018).

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

67,66

-1,10

Dầu Brent

USD/thùng

72,39

-1,82

-2,45%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

49.270,00

-670,00

-1,34%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,75

-0,01

-0,44%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

204,34

-0,17

-0,08%

Dầu đốt

US cent/gallon

209,60

-0,14

-0,07%

Dầu khí

USD/tấn

640,50

-16,75

-2,55%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

67.130,00

-870,00

-1,28%

Vàng New York

USD/ounce

1.226,00

-1,60

-0,13%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.358,00

-31,00

-0,71%

Bạc New York

USD/ounce

15,42

-0,03

-0,21%

Bạc TOCOM

JPY/g

55,90

+0,20

+0,36%

Bạch kim giao ngay

USD/ounce

819,83

+2,53

+0,31%

Palladium giao ngay

USD/ounce

921,07

+1,08

+0,12%

Đồng New York

US cent/lb

274,75

0,00

0,00%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.172,00

-128,00

-2,03%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.052,00

-29,00

-1,39%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.555,00

-70,00

-2,67%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

19.825,00

-255,00

-1,27%

Ngô

US cent/bushel

379,50

-7,00

-1,81%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

558,25

+4,50

+0,81%

Lúa mạch

US cent/bushel

248,25

+2,50

+1,02%

Gạo thô

USD/cwt

11,88

-0,04

-0,34%

Đậu tương

US cent/bushel

901,75

-17,25

-1,88%

Khô đậu tương

USD/tấn

336,00

-5,40

-1,58%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,95

-0,35

-1,19%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

495,80

-5,00

-1,00%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.129,00

-91,00

-4,10%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

108,05

-1,85

-1,68%

Đường thô

US cent/lb

10,48

-0,07

-0,66%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

169,15

+1,75

+1,05%

Bông

US cent/lb

88,34

-1,25

-1,40%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

440,40

-15,00

-3,29%

Cao su TOCOM

JPY/kg

168,90

-1,00

-0,59%

Ethanol CME

USD/gallon

1,44

-0,02

-1,50%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg