Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm sau số liệu cho thấy số giàn khoan tại Mỹ tăng lên. Kết thúc phiên, dầu ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 3/2019 giảm 1,7 USD xuống 51,99 USD/thùng; dầu Brent giao cùng kỳ hạn giảm 1,71 USD xuống 59,93 USD/thùng.
Công ty cung cấp dịch vụ ngành năng lượng Baker Hughes cho biết, số giàn khoan tại các mỏ dầu của Mỹ trong tuần trước đã tăng lần đầu tiên kể từ tháng 12/2018, lên 862, tăng 10 giàn so với tuần kết thúc ngày 18/1 và tăng 100 giàn so với cùng kỳ năm ngoái, gây quan ngại về tình trạng dư cung trong thời gian tới.
Trong khi đó, dữ liệu cho thấy lợi nhuận ngành công nghiệp Trung Quốc trong tháng 12/2018 giảm trong tháng thứ hai liên tiếp. Tuần trước, Bắc Kinh công bố tốc độ tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đang ở mức chậm nhất trong vòng 30 năm trở lại đây.
Một số chuyên gia đánh giá rằng đây là một phần hệ quả của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung khiến doanh số bán hàng bị chững lại. Hiện tại, thị trường đang chú ý tới kết quả cuộc đàm phán giữa hai nước và theo dõi những khả năng áp thuế tiếp theo có diễn ra hay không.
Để trấn an các nhà đầu tư, Bộ trưởng Năng lượng Saudi Arabia Khalid al-Falih trả lời phỏng vấn CNBC ngày 28/1 cho hay Nga, một trong những nước sản xuất dầu lớn nhất thế giới, đã cam kết đẩy nhanh tiến độ cắt giảm sản lượng trong năm nay.
Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC), dẫn đầu là Saudi Arabia, và 10 nước sản xuất dầu mỏ khác tháng 12 năm ngoái đã đạt thỏa thuận cắt giảm 1,2 triệu thùng/ngày tổng cộng trong sáu tháng đầu năm 2019, trong nỗ lực kiềm chế sản lượng đang không ngừng tăng của toàn cầu.
Theo số liệu mới nhất do OPEC công bố cuối tuần trước, Nga trước đó cho biết sẽ cắt giảm sản lượng 50.000-60,000 thùng/ngày trong tháng Một, một con số vẫn còn cách xa mục tiêu đề ra là cắt giảm 230.000 thùng/ngày trong sáu tháng đầu năm 2019.
Barclays mới đây đã hạ dự báo giá dầu Brent trong quý I từ 71 USD/thùng xuống 65 USD/thùng, trong quý 2/2019 từ 75 USD/thùng xuống 73 USD/thùng. Theo đó, giá dầu Brent trung bình năm 2019 dự báo đạt 70 USD/thùng, thấp hơn 2 USD so với dự báo ban đầu.
“Chúng tôi nghĩ dầu thô có nhiều nguy cơ giảm giá do những vấn đề liên quan tới nhu cầu và nguồn cung dư thừa tại Mỹ hơn là tăng giá nhờ thỏa thuận giảm sản lượng của OPEC”, Barclays nhận định. “Rõ ràng, nguồn cung dầu của Venezuela sẽ bị gián đoạn mạnh trong tương lai, nhưng thị trường dầu có thể phớt lờ những ảnh hưởng vật lý trong ngắn hạn”.
Giá dầu thô tăng hai phiên liên tiếp vào cuối tuần trước do lo ngại Mỹ có thể trừng phạt Venezuela sau khi Mỹ công nhận lãnh đạo đối lập Juan Guaido là tổng thống tạm quyền, khiến chính quyền Tổng thống Nicolas Maduro tuyên bố cắt quan hệ với Washington. Tuy nhiên, đà tăng ở mức hạn chế do tồn kho dầu thô tại Mỹ tiếp tục tăng.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng vững trong bối cảnh các nhà đầu tư đang chờ đợi những diễn biến tiếp theo về cuộc tranh chấp thương mại Mỹ - Trung và lộ trình tăng lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed).
Kết thúc phiên giao dịch, giá vàng giao ngay trên sàn London vững ở 1.302,62 USD/ounce, trong khi đó vàng giao tháng 2/2019 tăng 5 USD (hay 0,39%) lên đóng phiên ở mức 1.303,10 USD/ounce. Đây là lần đầu tiên kể từ ngày 14/6/2018, giá vàng đóng cửa trên mốc 1.300 USD/ounce.
Đà tăng của vàng đã tạm chững lại do các nhà đầu tư bán ra chốt lời sau đợt tăng gần đây. Kim loại quý này đã tăng hơn 12% so với mức thấp ghi nhận được hồi giữa tháng Tám năm ngoái, nhờ việc Chính phủ liên bang Mỹ đóng cửa một phần đã kết thúc gần đây.
Trong khi đó, chỉ số đồng USD - thước đo giá trị đồng bạc xanh với giỏ sáu tiền tệ chính - đã giảm nhẹ, qua đó tiếp thêm sức cho vàng.
Ngoài diễn biễn của cuộc đàm phán thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc trong hai ngày 30-31/1, các nhà đầu tư cũng để mắt đến cuộc họp chính sách của Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) thuộc Fed, trong đó Chủ tịch Jerome Powell được cho là sẽ nhìn nhận những rủi ro ngày càng tăng đối với nền kinh tế Mỹ khi đà tăng trưởng trên toàn cầu yếu đi.
Về những kim loại quý khác, giá palađi giảm 2,2% xuống 1.330 USD/ounce, giá bạc giao ngay giảm 0,1% xuống 15,73 USD/ounce, trong khi giá bạch kim giao ngay sụt mất 0,6% xuống 808,50 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá nhôm giảm sau khi Mỹ dỡ bỏ lệnh trừng phạt đối với nhà sản xuất nhôm lớn thứ hai thế giới, Rusal đặt ra từ tháng 4/2018. Giá nhôm chốt phiên giảm 2,7% xuống còn 1.867 USD/tấn, mức thấp nhất trong gần một tuần.
Tồn kho nhôm tại LME ở mức 1,3 triệu tấn, gần mức thấp nhất kể từ 5/2018. Thị trường Trung Quốc chuẩn bị ngừng hoạt động 1 tuần Tết âm lịch sẽ khiến thị trường trầm lắng, nhu cầu yếu trong khi việc khởi động lại sản xuất alumina tại nhà máy Alunorte của Norsk Hydro ở Brazil, có thể gây áp lực lên giá cả.
Giá quặng sắt kỳ hạn đã tăng lên mức cao nhất 16 tháng sau khi Cơ quan khai khoáng quốc gia của Brazil đã ra lệnh cho Công ty khoáng sản Vale ngừng hoạt động khai thác quặng sắt tại Corrego de Feijao sau khi xảy ra vụ vỡ đập hồ chứa chất thải khiến 58 người thiệt mạng và hàng trăm người mất tích.
Giá quặng sắt Đại Liên tăng 6% lên 567,5 CNY(84,23 USD)/tấn, mức cao nhất kể từ 9/2017.
Trung Quốc, nước tiêu thụ nguyên liệu luyện thép lớn nhất thế giới, đang cần nhiều loại quặng sắt chất lượng cao, ít gây ô nhiễm hơn.
Helen Lau, nhà phân tích của Argonaut Securities cho biết, việc đóng cửa mỏ Corrego do Feijao sẽ dẫn đến việc mất 1,5% sản lượng tại Vale, sẽ tác động không đáng kể đến nguồn cung.
Giá thép giảm nhẹ bất chấp báo động ô nhiễm lên mức thứ hai “ da cam” tại thành phố sản xuất thép lớn nhất Trung Quốc Tangshan, điều này có nghĩa là các nhà máy sẽ buộc phải cắt giảm hoạt động ít nhất từ 30% đến 60%, hoặc thậm chí phải đóng cửa tùy theo mức thoát khí thải. Giá thép cây kỳ hạn tại Thượng Hải giảm 0,8% xuống mức 3.681 CNY/tấn. Giá thép cuộn cán nóng giảm 1% xuống còn 3.588 CNY/tấn.
Trên thịt trường nông sản, giá cà phê Arabica kỳ hạn tại ICE giảm mạnh sau khi tăng cao trong tuần trước đó do triển vọng thời tiết cải thiện tại nước trồng cà phê hàng đầu Brazil. Giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 3/2019 đã giảm 4,15 cent, tương đương 3,9%, xuống mức 1,0265 USD/ lb. Cà phê Robusta kỳ hạn tháng 3/2019 giảm 26 USD, tương đương 1,7%, xuống mức 1,508 USD/tấn.
Giá thịt hơi tại Chicago tiếp tục giảm mạnh phiên thứ 5 liên tiếp do thị trường vẫn còn yếu về mặt kỹ thuật. Giá lợn hơi kỳ hạn tháng 4 chốt phiên tăng nhẹ sau khi chạm mức thấp nhất kể từ giữa tháng 8/2018 vào đầu phiên.
Trung Quốc, nước tiêu thụ thịt lợn hàng đầu thế giới, dự kiến sẽ tăng cường nhập khẩu từ Mỹ do dịch sốt lợn châu Phi bùng phát tại nước này. Ngoài ra, nhiều triển vọng sáng sủa dự kiến sẽ xuất hiện trong các cuộc đàm phán thương mại sắp tới giữa Washington và Bắc Kinh cũng hỗ trợ thị trường này.
Giá lợn hơi giao tháng 2/2019 tại CME chốt phiên giảm 0,400 cent còn 57,975 cent/pound. Giá lợn hơi giao tháng 4/2019 tăng nhẹ 0,200 cent đạt 62.325 cent sau khi chạm đáy 61.325 cent vào đầu phiên.
Giá cao su kỳ hạn giao sau tại Tokyo giảm theo xu hướng giá yếu tại Thượng Hải và giá dầu thô giảm, các yếu tố cơ bản yếu.
Giá cao su giao tháng 7/2019 tại Tokyo giảm 0,5 JPY(0,0046 USD) chốt phiên ở mức 180,7 JPY/kg. Giá cao su TSR 20 kỳ hạn tháng 7/2019 tại Tocom giảm 0,3 JPY còn 154 JPY/kg.Giá cao su kỳ hạn tháng 5/2019 tại Thượng Hải giảm 110 CNY(16,34 USD) còn 11.555 CNY/tấn.Giá cao su tại SICOM giao hàng tháng 2/2019 còn 132 Uscent/kg, giảm 0,9 Uscent.

Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

52,13

+0,14

+0,27%

Dầu Brent

USD/thùng

59,93

-1,71

-2,77%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

39.690,00

-810,00

-2,00%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,93

+0,02

+0,72%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

133,32

+0,01

+0,01%

Dầu đốt

US cent/gallon

184,04

+0,27

+0,15%

Dầu khí

USD/tấn

555,75

-12,75

-2,24%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

56.280,00

-830,00

-1,45%

Vàng New York

USD/ounce

1.308,50

-0,80

-0,06%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.568,00

+3,00

+0,07%

Bạc New York

USD/ounce

15,76

-0,01

-0,06%

Bạc TOCOM

JPY/g

55,60

+0,20

+0,36%

Bạch kim

USD/ounce

811,55

-0,52

-0,06%

Palađi

USD/ounce

1.332,26

-1,44

-0,11%

Đồng New York

US cent/lb

268,30

+0,30

+0,11%

Đồng LME

USD/tấn

6.002,00

-54,00

-0,89%

Nhôm LME

USD/tấn

1.867,00

-53,00

-2,76%

Kẽm LME

USD/tấn

2.680,00

+7,00

+0,26%

Thiếc LME

USD/tấn

20.675,00

0,00

0,00%

Ngô

US cent/bushel

379,75

-0,50

-0,13%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

518,75

-1,25

-0,24%

Lúa mạch

US cent/bushel

285,50

-5,50

-1,89%

Gạo thô

USD/cwt

10,72

+0,05

+0,47%

Đậu tương

US cent/bushel

923,25

-2,00

-0,22%

Khô đậu tương

USD/tấn

312,20

-1,70

-0,54%

Dầu đậu tương

US cent/lb

30,30

+0,27

+0,90%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

486,50

-2,00

-0,41%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.250,00

+25,00

+1,12%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

102,65

-4,15

-3,89%

Đường thô

US cent/lb

12,79

+0,35

+2,81%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

118,35

-1,05

-0,88%

Bông

US cent/lb

73,85

-0,28

-0,38%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

389,70

+8,20

+2,15%

Cao su TOCOM

JPY/kg

177,30

-3,60

-1,99%

Ethanol CME

USD/gallon

1,28

0,00

-0,39%

Nguồn: VITIC/Bloomberg. Reuters. CafeF