Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm sau số liệu cho thấy dự trữ của Mỹ tiếp tục tăng vượt mức dự báo của thị trường.

Kết thúc phiên, dầu ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 1/2019 giảm 1,27 USD xuống 50,29 USD/thùng; dầu Brent giao cùng kỳ hạn cũng giảm 1,72 USD xuống còn 58,76 USD/thùng.
Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho biết dự trữ dầu thô của nước này đã tăng 10 tuần liên tiếp, tăng thêm 3,6 triệu thùng trong tuần kết thúc vào ngày 23/11, gây lo ngại về khả năng nguồn cung dư thừa.
Dự kiến, các bộ trưởng thuộc Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) sẽ nhóm họp tại Vienna (Áo) vào ngày 6/12 tới để quyết định về chính sách liên quan đến sản lượng trong sáu tháng tới.
Các nhà đầu tư, giao dịch và các chuyên gia phân tích đang hướng sự chú ý đến cuộc họp của lãnh đạo Nhóm G20 gồm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới, vào hai ngày 30/11-1/12, trong đó cuộc chiến thương mại giữa Washington và Bắc Kinh là chủ đề trọng tâm. Bên cạnh đó, việc ba nước sản xuất dầu hàng đầu là Nga, Mỹ và Saudi Arabia sẽ tham dự hội nghị thượng đỉnh G20 đang làm dấy lên đồn đoán rằng chính sách về dầu mỏ cũng sẽ được đưa ra bàn thảo.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng khi USD giảm sau khi Chủ tịch Cục Dữ trữ Liên bang Mỹ (Fed) Jerome Powell nhận định lãi suất đang ở gần mức bình thường, qua đó làm dịu bớt sự lo ngại của các nhà đầu tư về lộ trình nâng lãi suất tại Mỹ.
Kết thúc phiên, giá vàng kỳ hạn giao tháng 12/2018 tăng 10,2 USD (0,84%) lên 1.223,6 USD/ounce; vàng giao ngay có lúc tăng 0,7% lên 1.222,45 USD/ounce sau khi tăng tới 1% lên 1.226,24 USD/ounce.
Chỉ số đồng USD, thước đo giá trị đồng bạc xanh với giỏ sáu tiền tệ chính, đã giảm 0,53% xuống 96,75 điểm sau khi ông Powell nói rằng việc Fed nâng lãi suất từ từ là nhằm cân bằng những rủi ro kinh tế. Thêm vào đó, ông Powell cho rằng lãi suất hiện nay gần sát với mức bình thường.
Bên cạnh đó, các nhà đầu tư đang chờ đợi biên bản cuộc họp diễn ra ngày 7-8/11 của Fed, dự kiến công bố vào ngày 29/11 để tìm kiếm thêm manh mối cho những chính sách trong năm 2019. Fed đã nâng lãi suất
Về những kim loại quý khác, giá palađi tăng gần 3% lên 1.184,35 USD/ounce, sau khi chạm mức cao kỷ lục là 1.186,30 USD/ounce; giá bạc tăng 1,4% lên 14,34 USD/ounce, trong khi giá bạch kim giảm 0,6% xuống 824,50 USD/ounce, sau khi có lúc tụt xuống mức thấp nhất của hơn một tháng là 809,50 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá kẽm tăng từ mức thấp nhất 10 tuần, do dự trữ giảm và phí bảo hiểm đối với kim loại này gia tăng. Giá kẽm kỳ hạn giao sau trên sàn London tăng 0,7% lên 2.452 USD/tấn, trong phiên có lúc giảm xuống 2.393,5 USD/tấn, thấp nhất kể từ ngày 19/9/2018, do dự trữ kẽm tại LME giảm 1.025 tấn xuống mức thấp nhất 10 năm (120.250 tấn).
Giá quặng sắt tại Trung Quốc tăng 1%, hồi phục sau 3 phiên giảm liên tiếp, do giá thép tăng trở lại sau đợt bán tháo đầu tuần. Giá quặng sắt kỳ hạn tháng 1/2019 trên sàn Đại Liên tăng 1% lên 471,5 CNY (68 USD)/tấn, sau khi cham mức thấp nhất kể từ ngày 11/7/2018 trong phiên liền trước là 459 CNY/tấn. Giá thép cây kỳ hạn tháng 1/2019 trên sàn Thượng Hải tăng 1,5% lên 3.644 CNY/tấn.
Trên thị trường nông sản, giá đường thô kỳ hạn tăng, hồi phục từ mức thấp nhất hơn 7 tuần trong phiên trước đó, trong khi cà phê robusta giảm do sản lượng vụ thu hoạch cà phê Việt Nam sẽ đạt mức cao kỷ lục.
Giá đường thô kỳ hạn tháng 3/2019 tăng 0,5 US cent tương đương 4,1% lên 12,84 US cent/lb, rời khỏi mức thấp nhất hơn 7 tuần (12,32 US cent/lb) trong phiên liền trước. Giá đường trắng giao cùng kỳ hạn tăng 11,1 USD tương đương 3,3% lên 347,4 USD/tấn. Mặc dù, các nhà phân tích Green Pool nâng dự báo dư thừa đường toàn cầu niên vụ 2018/19 lên 3,6 triệu tấn, so với dự báo 3,22 triệu tấn trước đó.
Trong khi đó, giá cà phê robusta kỳ hạn tháng 3/2019 giảm 17 USD tương đương 1% xuống 1.630 USD/tấn, do Rabobank dự báo vụ thu hoạch cà phê robusta Việt Nam sẽ đạt tổng cộng 31,1 triệu bao (60 kg), tăng so với 29,8 triệu bao niên vụ trước. Giá cà phê arabica giao cùng kỳ hạn tăng 0,6 US cent tương đương 0,5% lên 1,139 USD/lb.
Giá đậu tương kỳ hạn tại Mỹ tăng trong bối cảnh các nhà đầu tư chờ đợi xem liệu các cuộc đàm phán dự kiến giữa Washington và Bắc Kinh tại cuộc họp thượng đỉnh G20 trong tuần này có thể xoa dịu tranh chấp thương mại, thúc đẩy xuất khẩu đậu tương của Mỹ sang Trung Quốc. Giá đậu tương kỳ hạn tháng 1/2019 trên sàn Chicago tăng 14-1/2 US cent lên 8,9 USD/bushel.
Giá cao su kỳ hạn tại Tokyo tăng trở lại, được hậu thuẫn bởi giá cao su kỳ hạn tại Thượng Hải tăng và đồng JPY suy yếu so với đồng USD. Giá cao su kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn TOCOM tăng 1,5 JPY lên 157,5 JPY (1,38 USD)/kg. Tính đến nay, giá cao su đã tăng hơn 4% kể từ mức thấp nhất 27 tháng trong tuần trước đó, cùng với xu hướng giá dầu giảm. Đồng thời, giá cao su TSR20 kỳ hạn tháng 5/2018 trên sàn TOCOM tăng 1,4 JPY lên 144,4 JPY/kg và giá cao su kỳ hạn tháng 1/2019 trên sàn Thượng Hải tăng 25 CNY lên 10.870 CNY (1.563 USD)/tấn.
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

50,29

-1,27

 

Dầu Brent

USD/thùng

58,76

-1,72

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

41.190,00

-1.140,00

-2,69%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

4,72

+0,45

+10,63%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

140,90

+1,11

+0,79%

Dầu đốt

US cent/gallon

185,25

+1,41

+0,77%

Dầu khí

USD/tấn

557,50

0,00

0,00%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

57.240,00

-1.110,00

-1,90%

Vàng New York

USD/ounce

1.227,50

-2,30

-0,19%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.447,00

+14,00

+0,32%

Bạc New York

USD/ounce

14,41

-0,05

-0,35%

Bạc TOCOM

JPY/g

52,30

+0,30

+0,58%

Bạch kim

USD/ounce

826,70

+1,80

+0,22%

Palađi

USD/ounce

1.183,73

-2,21

-0,19%

Đồng New York

US cent/lb

280,00

-1,35

-0,48%

Đồng LME

USD/tấn

6.200,00

+78,50

+1,28%

Nhôm LME

USD/tấn

1.932,00

+1,50

+0,08%

Kẽm LME

USD/tấn

2.452,00

+17,00

+0,70%

Thiếc LME

USD/tấn

18.240,00

-35,00

-0,19%

Ngô

US cent/bushel

373,50

+0,25

+0,07%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

512,25

+0,75

+0,15%

Lúa mạch

US cent/bushel

296,00

-2,00

-0,67%

Gạo thô

USD/cwt

10,83

+0,01

+0,05%

Đậu tương

US cent/bushel

889,25

-1,25

-0,14%

Khô đậu tương

USD/tấn

310,00

-0,30

-0,10%

Dầu đậu tương

US cent/lb

27,99

+0,01

+0,04%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

479,20

0,00

0,00%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.121,00

-24,00

-1,12%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

113,90

+0,60

+0,53%

Đường thô

US cent/lb

12,84

+0,50

+4,05%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

139,70

+0,40

+0,29%

Bông

US cent/lb

78,88

+1,00

+1,28%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

336,70

-9,50

-2,74%

Cao su TOCOM

JPY/kg

158,80

+1,30

+0,83%

Ethanol CME

USD/gallon

1,24

0,00

-0,40%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg