Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm do dự trữ của Mỹ tăng mạnh hơn dự kiến và đồng USD mạnh lên.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu Brent giao tháng 6/2018 giảm 70 US cent xuống 68,76 USD/thùng, Brent giao tháng 5/2018 – vừa đáo hạn ở phiên này – giảm 58 US cent (0,8%) xuống 69,53 USD/thùng; dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giảm 87 US cent (-1,3%) xuống 64,38 USD/thùng.
Mức chênh lệch giữa 2 loại này tăng lên 5,22 USD, cao nhất kể từ 24/1.
Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho hay dự trữ dầu thô của nước này đã tăng thêm 1,6 triệu thùng trong tuần kết thúc vào ngày 23/3, vượt xa mức dự đoán của thị trường. 
Số liệu của EIA cho thấy nhập khẩu ròng dầu cũng tăng 1,1 triệu thùng/ngày, đồng thời dự trữ tại trung tâm trung chuyển Cushing (Oklahoma) bắt đầu đầy lên (tăng 1,8 triệu thùng) gây áp lực giảm giá. Tuy nhiên, EIA “còn mất nhiều thời gian để dự trữ ở Cushing đạt mức bình thường”, ông John Kilduff, thuộc Quỹ năng lượng Again Capital LLC ở New York cho biết.
Mặc dù chi phí sản xuất dầu của Mỹ đang tăng, song giá dầu cũng tăng nên ngành dầu mỏ nước này vẫn tăng cường đầu tư, nhiều giàn khoan mới được triển khai.
Sản lượng khai thác dầu của Mỹ đã tăng gần 25% kể từ giữa năm 2016 lên mức 10,4 triệu thùng dầu/ngày, giúp nước này vượt qua nhà xuất khẩu dầu hàng đầu thế giới Saudi Arabia về sản lượng và trên đà đuổi kịp Nga, nước sản xuất dầu lớn nhất thế giới, với sản lượng đạt khoảng 11 triệu thùng dầu/ngày. Hiện Saudi Arabia và Nga vẫn đang bàn thảo về một thỏa thuận có thể mở rộng kiểm soát đối với các nguồn cung dầu từ các nước xuất khẩu dầu lớn trong nhiều năm.
Trả lời một cuộc phỏng vấn tại New York, Thái tử Saudi Arabia, Mohammed bin Salman cho hay: “Chúng tôi đang bàn bạc để chuyển một thỏa thuận hàng năm thành thỏa thuận từ 10 tới 20 năm”, và thêm rằng “Chúng tôi thỏa thuận về bức tranh lớn, nhưng chưa có chi tiết”. Nga, không phải thành viên của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC đã làm việc cùng với tổ chức 14 thành viên này trong suốt giai đoạn dư thừa dầu mỏ trước đó, nhưng một thỏa thuận 10 tới 20 năm giữa hai nước là chưa từng có. Một hiệp ước dài hạn giữa Moscow và Riyadh sẽ thúc đẩy Nga hợp tác với Saudi Arabia, đồng thời tăng cường sức mạnh của Nga tại Trung Đông nơi từ lâu Mỹ đã là một siêu cường.
Về thông tin liên quan, Nga duy trì vị trí là nhà cung cấp dầu thô lớn nhất sang Trung Quốc trong tháng 2/2018, vị trí mà nước này nắm giữ trong tháng 1/2018 cũng như suốt 2 năm qua. Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GAC) cuối tuần trước công bố số liệu cho thấy Nga cung cấp 5,052 triệu tấn dầu, tương đương 1,32 triệu thùng/ngày sang Trung Quốc trong tháng 2/2018, tăng 17,8% so với cùng kỳ năm 2017. Saudi Arabia trong tháng trước giành lại ngôi vị thứ hai sau khi để mất vào tay Angola hồi tháng 1/2018, khi xuất khẩu 4,635 triệu tấn dầu, tương đương 1,21 triệu thùng/ngày sang Trung Quốc, giảm 2,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Lượng dầu xuất khẩu sang Trung Quốc trong tháng Hai từ Angola đạt 973.800 thùng dầu/ngày, tăng 14,7% so với mức cùng kỳ năm ngoái.
Trên thị trường kim loại quýgiá vàng vàng giảm sau khi Mỹ điều chỉnh tăng số liệu về tăng trưởng GDP quý 4 năm ngoái từ 2,5% lên 2,9% khiến USD tăng mạnh so với rổ các đồng tiền chủ chốt. USD đã tăng 0,4% so với EUR. Vàng giao ngay giảm 1,4% xuống 1.325,66 USD/ounce, trong khi vàng giao tháng 4 giảm 17,80 USD (1,3%) xuống 1.324,20 USD/ounce. 

 

Giá vàng luôn nhạy cảm với những biến động của đồng USD, do một khi đồng bạc xanh mạnh lên sẽ khiến sức hấp dẫn của các tài sản an toàn như vàng giảm đáng kể.Trong khi đó, triển vọng tích cực liên quan việc phi hạt nhân hóa Bán đảo Triều Tiên đã làm dịu bớt không khí căng thẳng và qua đó càng giảm bớt nhu cầu về “tài sản trú ẩn an toàn” như vàng.
Tuy nhiên, căng thẳng địa chính trị vẫn đang hỗ trợ tích cực cho thị trường vàng, nên tính chung cả quý 1 giá đã tăng 2%.
Tập đoàn CPM dự đoán đầu tư vào vàng năm 2018 sẽ tiếp tục tăng năm thứ 5 liên tiếp do căng thẳng địa chính trị và lo ngại rằng “bong bóng” tăng trưởng kinh tế Mỹ sẽ kết thúc vào năm 2019. CPM dự đoán đầu tư ròng vào vàng trong năm 2018 sẽ lên tới 20,3 triệu ounce, tăng 6,6% so với năm 2017.
Với các kim loại quý khác, giá bạc giảm 1,4% xuống 16,26 USD/ounce sau khi có lúc chạm mức thấp nhất 1 tuần, bạch kim giảm 1% xuống 934 USD/ounce và cũng có lúc chạm mức thấp nhất kể từ 2/1; và palađi giảm 0,7% xuống 966 USD, trong phiên cũng có lúc giá thấp nhất 1 tuần. Tuy nhiên, theo UBS thì bức tranh cung – cầu palađi vẫn sáng cho thấy giá sẽ tiếp tục được hỗ trợ tích cực. Hồi tháng 1, kim loại quý này đã lập kỷ lục cao về giá.
Thị trường giao dịch kim loại quý của Mỹ sẽ đóng cửa vào ngày thứ Sáu tuần này để nghỉ lễ Good Friday.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá nhôm chạm mức thấp nhất hơn 3 tháng do USD vững lên và lo ngại khối lượng cắt giảm sản lượng của Trung Quốc không đủ nhiều để làm thay đổi cục diện nguồn cung. Giá trên sàn London kết thúc phiên giảm 0,9% xuống 2.027 USD/tấn, trong phiên có lúc chỉ 2.018,75 USD, thấp nhất kể từ 14/12/2017.
Giá nhôm đã giảm hơn 10% từ đầu năm tới nay do các nhà máy ở Trung Quốc khôi phục sản xuất sau giai đoạn cắt giảm sản lượng trong mùa đông để giảm ô nhiễm môi trường.

 

Theo chiến lược gia Warren Patterson của công ty ING Commodities Strategist, tồn trữ tiếp tục tăng; tồn trữ tại các kho của sàn London giảm 3.4% (35.025 tấn) xuống 996.500 tấn, tuy nhiên tồn trữ tại các kho của sàn Thượng Hải đã lập kỷ lục cao mới 940.318 tấn. 

 

 

Thị trường thép cũng đang biến động mạnh. Giá thép kỳ hạn tại Trung Quốc tăng phiên thứ 2 liên tiếp, trái ngược với xu hướng giảm mạnh gần đây, mặc dù giá nguyên liệu giảm, bởi các nhà đầu tư tranh thủ mua vào khi giá giảm. Tại Thượng Hải giá tăng 0,3% lên 3.424 NDT (545,40 USD)tấn, tiếp tục rời khỏi mức thấp nhất 8 tháng của phiên trước đó. Tuy nhiên tính trong cả tuần qua, giá đã giảm 7,4%, nhiều nhất kể từ cuối 2016 do căng thẳng Mỹ - Trung về thuế leo thang làm gia tăng lo ngại về tăng trưởng kinh tế ở 2 thị trường này. 

 

Trong khi đó tại Trung Quốc, giá quặng sắt tăng bởi những tín hiệu cho thấy chính quyền Bắc Kinh sẽ cố gắng đàm phán để tránh một cuộc chiến tranh thương mại đang kéo giá hồi phục. Quặng hàm lượng 62% giao ngay tại cảng Tần Hoàng Đảo kết thúc phiên vừa qua tăng 0,6% lên 63,90 USD/tấn, trong khi chỉ số giá của Metal Bulletin đối với quặng cùng loại cũng tăng 1,3% lên 65,17 USD/tấn; quặng trên sàn Đại Liên tăng 1,1% lên 553,5 NDT (70,73 USD)/tấn.
Quặng sắt đang biến động theo sát các diễn biến liên quan tới thuế thép mới của Mỹ. Ngày 1/3, trước khi Tổng thống Mỹ Donald Trump thông báo thuế thép và nhôm, giá quặng sắt giao ngay ở mức 79,55 USD/tấn, nhưng sau tuyên bố của ông Trump giá đã giảm liên tiếp 11 ngày sau đó xuống chỉ 69,80 USD/tấn vào ngày 12/3. Ngày sau đó, tuyên bố của ông Trump đánh thuế trị giá khoảng 60 tỷ USD với hàng hóa Trung Quốc khiến giá xuống chỉ còn 63,50 USD/tấn vào ngày 26/3, thấp nhất trong vòng 4 tháng.

 

Ngoài ra, nhu cầu thép của Trung Quốc giảm và tồn trữ tại các cảng của Trung Quốc cao kỷ lục luôn cản trở giá hồi phục trong thời gian gần đây. So với thời điểm giá cao nhất của năm nay (ngày 26/2), giá quặng hiện tại đã mất 20%. Tại hội thảo Triển vọng thị trường sắt thép toàn cầu mới đây, các chuyên gia dự báo giá quặng sắt trung bình năm 2018 sẽ là 65 USD/tấn. 

 

Đối với nông sản, đường thô giảm giá xuống mức thấp nhất 2 năm rưỡi do đồng nội tệ Brazil giảm. Đường thô giao tháng 3 giảm 0,33 US cent tương đương 2,6% xuống 12,21 US cent/lb, trong phiên có lúc giá xuống 12,18 US cent, thấp nhất kể từ tháng 9/2015; còn đường trắng giao tháng 5 giảm 8,10 USD tương đương 2,3% xuống 347,80 USD/tấn.
Đồng real Brazil đã xuống mức thấp nhất 3 tháng rưỡi so với USD, dự kiến sẽ khiến hoạt động bán ra mạnh mẽ từ nước sản xuất đường lớn nhất thế giới này.
Giá cà phê arabica cũng giảm 1,2 US cent tương đương 1% xuống 1,1775 USD/lb, trong khi robusta giảm 6 USD tương đương 0,4% xuống 1.729 USD/tấn.
Các thương gia dự báo sản lượng bội thu ở Brazil và Việt Nam năm nay cũng góp phần ép giá giảm.
Trong số các loại ngũ cốc, giá lúa mì giảm mạnh bởi sản lượng hứa hẹn tăng ở khắp nơi. Mỹ đã có một mùa Đông khắc nghiệt nhưng thời tiết mùa Xuân đang rất thuận lợi. Lúa mì giao tháng 5 trên sàn Chicago cuối phiên giảm 3-1/2 US cents xuống 4,45-1/2 USD/bushel, trong phiên có lúc chỉ 4,44-1/2 USD, thấp nhất kể từ 25/1. Giá lúa mì tại Nga tuần này cũng giảm theo xu hướng giá ở Chicago và Paris. Lúa mì Biển Đen hàm lượng protein 12,5% hiện ở mức 208 USD/tấn, FOB.
Tuy nhiên, sản lượng lúa mì thế giới niên vụ 2018/19 dự báo sẽ chưa hồi phục hoàn toàn. Theo Hội đồng Ngũ cốc quốc tế (IGC), sản lượng lúa mì toàn cầu sẽ đạt 741 triệu tấn, giảm 2,2% so với năm trước, trong khi tiêu thụ sẽ tăng nhẹ lên 744 triệu tấn, so với 742 triệu tấn của năm trước.
Giá cao su tiếp diễn xu hướng tăng của phiên trước cũng với lý do căng thẳng Mỹ - Trung dịu lại. Hợp đồng kỳ hạn trên sàn Tokyo tăng 0,6% lên 180,2 JPY/kg, mặc dù tại tại Thượng Hải giảm 65 NDT xuống 11.075 NDT/tấn.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

64,71

-0,70

-1,02%

Dầu Brent

USD/thùng

69,53

-0,58

-0,83%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

42.830,00

+550,00

+1,30%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,70

+0,01

+0,19%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

201,16

-0,19

-0,09%

Dầu đốt

US cent/gallon

201,48

-0,76

-0,38%

Dầu khí

USD/tấn

616,25

-1,00

-0,16%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

59.150,00

+420,00

+0,72%

Vàng New York

USD/ounce

1.331,10

-1,10

-0,08%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.550,00

-2,00

-0,04%

Bạc New York

USD/ounce

16,29

+0,03

+0,20%

Bạc TOCOM

JPY/g

56,20

+0,10

+0,18%

Bạch kim giao ngay

USD/ounce

939,28

+1,52

+0,16%

Palladium giao ngay

USD/ounce

970,52

+0,93

+0,10%

Đồng New York

US cent/lb

299,95

-0,25

-0,08%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.665,00

+16,00

+0,24%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.027,00

-18,00

-0,88%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.284,00

+9,00

+0,27%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

20.890,00

+15,00

+0,07%

Ngô

US cent/bushel

373,50

-0,50

-0,13%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

445,50

-3,50

-0,78%

Lúa mạch

US cent/bushel

221,75

-4,25

-1,88%

Gạo thô

USD/cwt

12,45

0,00

0,00%

Đậu tương

US cent/bushel

1.018,00

-1,50

-0,15%

Khô đậu tương

USD/tấn

371,30

-1,10

-0,30%

Dầu đậu tương

US cent/lb

31,62

+0,04

+0,13%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

521,80

-1,10

-0,21%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.597,00

+43,00

+1,68%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

117,75

-1,20

-1,01%

Đường thô

US cent/lb

12,21

-0,33

-2,63%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

141,10

+3,40

+2,47%

Bông

US cent/lb

80,74

-1,28

-1,56%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

507,10

+0,10

+0,02%

Cao su TOCOM

JPY/kg

180,20

0,00

0,00%

Ethanol CME

USD/gallon

1,45

+0,00

+0,14%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg