Trên thị trường năng lượng, giá dầu ít thay đổi vào lúc đóng cửa mặc dù có thời điểm giảm xuống khi Tổng thống Mỹ kêu gọi OPEC tăng sản lượng để hạ giá "vàng đen" vốn đang hướng đến quý tăng mạnh nhất trong 10 năm qua.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu thô ngọt nhẹ Mỹ giảm 11 US ecnt xuống 59,30 USD/thùng, trong khi giá dầu Brent Biển Bắc giảm 1 US cent và khép phiên ở mức 67,82 USD/thùng.
Giá dầu đã tăng hơn 25% trong năm nay, trong đó cả giá dầu ngọt nhẹ Mỹ và giá dầu Brent đều đang hướng đến quý tăng mạnh nhất kể từ năm 2009, chủ yếu là nhờ các biện pháp cắt giảm sản lượng của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) và các nước đồng minh như Nga.
Tuy nhiên, Saudi Arabia đang gặp khó khăn trong việc thuyết phục Nga duy trì thỏa thuận này lâu hơn. Về phía mình, các nguồn tin thân cận với vấn đề này cho biết Moskva có thể sẽ chỉ đồng ý gia hạn thêm ba tháng nữa.
Bên cạnh đó, các lệnh trừng phạt của Mỹ đối với Venezuela và Iran đã hạn chế hoạt động xuất khẩu dầu của các nước này và đẩy giá dầu trong năm nay. Washington đã yêu cầu các công ty lọc dầu và trung tâm giao dịch "vàng đen" trên toàn thế giới cắt giảm hơn nữa các giao dịch với Venezuela để tránh phải đối mặt với lệnh trừng phạt.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm hơn 1% xuống mức thấp trong hơn hai tuần, trước sự mạnh lên của đồng USD.
Cuối phiên giao dịch, giá vàng giao ngay giảm 1,5% xuống 1.290,51 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng giao kỳ hạn giảm 1,6% xuống 1.289,80 USD/ounce.
Đồng USD đã lên giá so với rổ tiền tệ, trong bối cảnh các ngân hàng trung ương có chiều hướng giữ quan điểm không tăng lãi suất. Các bên tham gia thị trường dự báo rằng Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) sẽ giữ lãi suất ở mức thấp trong thời gian dài hơn.
Chuyên gia Peter Hug, thuộc Kitco Metals, nhận định vàng sẽ tiếp tục chịu sự chi phối của đồng USD cho đến khi có thêm các yếu tố tác động khác.
Giữa những lo ngại về sự giảm tốc của kinh tế toàn cầu, tuần này Ngân hàng Dự trữ New Zealand đã gia nhập danh sách các ngân hàng tỏ ra cẩn trọng trong chính sách lãi suất, đồng thời cho biết bước đi tiếp theo có thể là hạ lãi suất.
Trong quý 4/2018, kinh tế Mỹ đã tăng trưởng chậm hơn dự kiến, khiến tốc độ tăng trưởng trong năm 2018 ở dưới mục tiêu 3% mà Chính phủ Tổng thống Mỹ Donald Trump đề ra.
Về những kim loại quý khác, giá bạch kim giảm gần 1% xuống 839,75 USD/ounce, còn giá bạc giảm 2,1% xuống 14,97 USD/ounce.
Phiên này, giá palađi tiếp tục giảm sâu, giữa những lo ngại tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại sẽ tác động đến nhu cầu tiêu thụ. Theo đó, giá palađi đã giảm 7,2% xuống 1.340,38 USD/ounce, sau khi có lúc rơi xuống 1.331,09 USD/ounce, mức thấp nhất kể từ ngày 29/1. Giá kim loại này đã giảm hơn 250 USD kể từ mức đỉnh 1.620,52 USD/ounce hồi tuần trước.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá quặng sắt kỳ hạn tại Trung Quốc đã giảm xuống mức thấp nhất hơn hai tuần do nhà đầu tư vẫn thận trọng trong bối cảnh giá tiếp tục biến động và tồn kho tăng tại cảng Trung Quốc. Giá quặng sắt kỳ hạn tháng 5/2019 tại Đại Liên đã giảm 1,1% xuống 607 CNY (90,22 USD)/tấn. Bất chấp nguồn cung gián đoạn, hàng tồn kho tại các cảng Trung Quốc tiếp tục tăng, đạt mức cao nhất trong sáu tháng là 148,6 triệu tấn vào ngày 22/3, theo SteelHome.
Giá thép xây dựng Trung Quốc chốt phiên giảm nhẹ do nguồn cung dồi dào. Giá thép cây tại Thượng Hải chốt phiên giảm 0,5% còn 3.690 CNY/tấn sau khi tăng 0,7% lên 3.734 CNY hồi đầu phiên nhờ nhu cầu thép mạnh từ ngành xây dựng. Giá thép cuộn cán nóng , được sử dụng trong ô tô và thiết bị gia dụng tăng 0,2% đạt 3.675 CNY/tấn.
Mặc dù hạn chế sản xuất nhưng sản lượng thép của Trung Quốc trong tháng 2 tăng 9,2% so với một năm trước đó, sau khi tăng 4,3% trong tháng trước, theo số liệu từ Hiệp hội thép thế giới.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê Arabica kỳ hạn tại sàn ICE tăng nhẹ nhờ đồng tiền Brazil mạnh hơn. Giá cà phê Arabica chốt phiên tăng 0,15 cent, tương đương 0,2%, đạt 94 cent/ lb, sau khi giao dịch thấp là 92,70 cent/lb. Giá đã giảm 4,6% trong tháng 3, sau khi giảm 9,7% trong tháng 2. Trong khi đó, giá cà phê Robusta giao tháng 5 giảm 12 USD, tương đương 0,8%, xuống còn 1.492 USD/tấn.
Ngành sản xuất cà phê toàn cầu đã cảnh báo rằng môi trường giá hiện tại đang đe dọa tương lai của ngành. Xuất khẩu cà phê tháng 3 của Việt Nam ước tính giảm 28,8-33,5% so với một
Giá đường giảm do giá dầu đi xuống sau khi Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump kêu gọi OPEC tăng cường sản xuất. Giá năng lượng thấp hơn có thể khuyến khích các nhà máy mía ở Brazil sản xuất nhiều đường hơn là ethanol. Chốt phiên giao dịch, giá đường thô giảm 0,05 cent, tương đương 0,40%, xuống 12,53 cent/ lb. Giá đường trắng giảm 3,5 USD, tương đương 1,1%, xuống mức 326,60 USD/tấn.
Khu vực trung tâm phía nam của Brazil dự kiến sẽ sản xuất 29,5 triệu tấn đường trong mùa vụ 2019-20, tăng 11% so với vụ trước nhưng ít hơn dự kiến trước đó, nhà môi giới và nhà phân tích INTL FCStone cho biết
Giá cao su Trung Quốc giảm do hoạt động bán tháo trước khi nước này giảm thuế giá trị gia tăng trong tháng 4 và các số liệu kinh tế vĩ mô nghèo nàn.
Các công ty công nghiệp của Trung Quốc đã công bố lợi nhuận trong hai tháng đầu năm nay sụt giảm tồi tệ nhất kể từ cuối năm 2011 do nhu cầu trong và ngoài nước chậm lại.
Giá cao su tại Thượng Hải giảm 2,36% xuống 11.180 CNY(1.662,65 USD) /tấn.
Tại Tokyo, giá cao su cũng giảm. Giá cao su giao tháng 9 giảm 4,5 JPY(0,0408 USD), tương đương 2,4%, xuống còn 181,3 JPY/ kg. Giá cao su TSR20 giao hàng tháng 9 đã giảm 2,5 JPY xuống 160,5 JPY/ kg. Tại Singapore, giá cao su giao tháng 4 đạt 145 US cent/ kg, tăng 0,6% so với phiên trước đó.

Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

59,30

-0,11

Dầu Brent

USD/thùng

67,82

-0,01

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

45.020,00

+500,00

+1,12%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,72

+0,01

+0,37%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

189,43

+1,44

+0,77%

Dầu đốt

US cent/gallon

197,32

+0,12

+0,06%

Dầu khí

USD/tấn

606,50

+5,00

+0,83%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

61.380,00

+830,00

+1,37%

Vàng New York

USD/ounce

1.296,70

-1,40

-0,11%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.593,00

-41,00

-0,88%

Bạc New York

USD/ounce

15,02

+0,05

+0,31%

Bạc TOCOM

JPY/g

53,60

-0,60

-1,11%

Bạch kim

USD/ounce

844,49

+4,99

+0,59%

Palađi

USD/ounce

1.365,51

+18,48

+1,37%

Đồng New York

US cent/lb

288,50

+1,25

+0,44%

Đồng LME

USD/tấn

6.360,00

+25,00

+0,39%

Nhôm LME

USD/tấn

1.903,00

-8,00

-0,42%

Kẽm LME

USD/tấn

2.867,00

-20,00

-0,69%

Thiếc LME

USD/tấn

21.420,00

+70,00

+0,33%

Ngô

US cent/bushel

373,50

-0,50

-0,13%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

463,75

-0,75

-0,16%

Lúa mạch

US cent/bushel

265,00

+0,25

+0,09%

Gạo thô

USD/cwt

10,91

0,00

0,00%

Đậu tương

US cent/bushel

890,75

+1,25

+0,14%

Khô đậu tương

USD/tấn

306,70

+0,20

+0,07%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,68

+0,05

+0,17%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

454,70

-0,50

-0,11%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.257,00

+9,00

+0,40%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

94,00

+0,15

+0,16%

Đường thô

US cent/lb

12,53

-0,05

-0,40%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

123,80

+0,80

+0,65%

Bông

US cent/lb

75,76

-0,11

-0,14%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

374,90

+8,30

+2,26%

Cao su TOCOM

JPY/kg

182,00

+0,70

+0,39%

Ethanol CME

USD/gallon

1,39

+0,00

+0,07%

Nguồn: Bloomberg, Reuters