Trên thị trường năng lượng, giá dầu thô tăng sau khi Mỹ áp đặt lệnh trừng phạt đối với công ty dầu khí quốc gia PDVSA của Venezuela.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) giao kỳ hạn tăng 1,32 USD (hay 2,54%) lên 53,31 USD/thùng, trong khi đó dầu Brent Biển Bắc giao kỳ hạn cũng tăng 1,39 USD (2,32%) lên 61,32 USD/thùng.
Bộ Tài chính Mỹ đã công bố một số biện pháp trừng phạt bổ sung nhằm vào PDVSA, theo đó mọi tài sản và lợi ích của doanh nghiệp này có liên quan tới quyền tài phán của Mỹ sẽ bị đóng băng và các cá nhân Mỹ cũng bị cấm giao dịch với PDVSA. Đây là các biện pháp trừng phạt mới nhất của Mỹ đối với Venezuela, được cho là để gia tăng áp lực đối với chính quyền Tổng thống Maduro.
Động thái này của Washington có thể làm giảm hoạt động xuất khẩu dầu mỏ của quốc gia Nam Mỹ này, đồng thời làm dịu bớt nỗi lo ngại về tình trạng dôi dư nguồn cung trên toàn cầu.
Venezuela hiện là một trong những nhà sản xuất dầu nặng nhiều nhất thế giới và Mỹ là khách hàng chính, mua khoảng một nửa lượng dầu xuất khẩu của quốc gia Nam Mỹ này. Tuy nhiên, lượng dầu xuất khẩu của Venezuela sang Mỹ đã giảm trong vài năm gần đây do khủng hoảng kinh tế tại quốc gia Nam Mỹ này và các lệnh trừng phạt của Mỹ.
Xuất khẩu dầu mỏ của Venezuela đã giảm xuống chỉ còn hơn 1 triệu thùng/ngày trong năm 2018, từ mức 1,6 triệu thùng/ngày năm 2017.
Petromatrix dự báo xuất khẩu dầu mỏ của Venezuela sẽ giảm đi khoảng 500.000 thùng/ngày trong điều kiện hiện tại.
Venezuela là thành viên của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC), hiện đang thực hiện thỏa thuận cắt giảm nguồn cung để vực dậy giá dầu trên thế giới. Nga, đồng minh lớn nhất của OPEC, và Trung Quốc đều đã công khai lên án các lệnh trừng phạt của Mỹ.
Trong khi đó, mỏ dầu lớn nhất của Libya là El Sharara đang phải đóng cửa khi một nhóm vũ trang chiếm giữ khu vực này. Dù vậy, nguồn cung dầu trên toàn cầu vẫn ở mức cao, chủ yếu do sản lượng dầu của Mỹ tăng mạnh và đã đạt mức cao kỷ lục 11,9 triệu thùng/ngày trong năm ngoái.
Liên quan tới thị trường dầu mỏ, Giám đốc điều hành Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) Fatih Birol đánh giá Saudi Arabia sẽ vẫn là nhà xuất khẩu dầu mỏ lớn nhất thế giới trong những năm tới cho dù ngành dầu mỏ của Mỹ đang ghi nhận mức tăng trưởng mạnh. Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) diễn ra ở Davos (Thụy Sĩ), ông Birol cho rằng Saudi Arabia sẽ vẫn đóng vai trò chủ chốt trên thị trường “vàng đen” toàn cầu bất chấp lĩnh vực năng lượng thế giới đang thay đổi nhanh chóng.
Mỹ sản xuất rất nhiều dầu mỏ song phải sử dụng phần lớn số đó cho nhu cầu tiêu thụ nội địa. Vì vậy, dù Mỹ đang được đánh giá là nhà sản xuất dầu mỏ quan trọng, nhưng khu vực Trung Đông và đặc biệt là Saudi Arabia sẽ vẫn là nhà xuất khẩu dầu mỏ lớn nhất thế giới.
Ông Birol cũng lưu ý không nên đánh giá thấp tầm quan trọng của lĩnh vực dầu mỏ đá phiến của Mỹ. Theo người đứng đầu IEA, một số nhà quan sát đã nhận định sai và đánh giá thấp tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp dầu đá phiến của Mỹ trong năm vừa qua, do đó năm 2019 lĩnh vực này của Mỹ có thể sẽ lại thu hút sự chú ý của thị trường.
Theo số liệu chính thức được Saudi Arabia công bố ngày 21/1 vừa qua, xuất khẩu dầu thô của vương quốc này tháng 11/2018 đã tăng lên 8,235 triệu thùng/ngày, từ mức 7,7 triệu thùng/ngày ghi nhận tháng trước đó.
Giá khí tự nhiên tại Mỹ trong phiên vừa qua tăng từ mức thấp nhất 4 tháng trong phiên trước đó, do triển vọng thời tiết trong 2 tuần tới lạnh hơn so với dự báo trước đó. Giá khí gas kỳ hạn tháng 2/2019 trên sàn New York tăng 3,9 US cent tương đương 1,3% lên 2,950 USD/mBTU, sau khi giảm hơn 8% trong phiên trước đó xuống mức thấp nhất kể từ ngày 19/9/2018.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng chạm mức cao nhất trong hơn tám tháng, trước những hoài nghi về quan hệ thương mại Mỹ - Trung và khả năng Fed sẽ tạm dừng chính sách nâng lãi suất.
Cuối phiên vừa qua, giá vàng giao ngay tại London tăng 0,5% lên 1.310,49 USD/ounce, sau khi có thời điểm vọt lên 1.311,67 USD/ounce - mức cao nhất kể từ ngày 15/5, trong khi đó vàng giao sau tại New York tăng 0,4% lên 1.308,90 USD/ounce.
Jeffrey Sica, nhà sáng lập Circle Squared Alternative Investments, cho rằng yếu tố xúc tác chính thúc đẩy giá vàng đi lên trong phiên này là mối lo ngại về cuộc thương chiến giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới. Ngày 28/1, giới chức Mỹ đã chính thức cáo buộc Huawei (doanh nghiệp công nghệ của Trung Quốc) và bà Mạnh Vãn Chu, Giám đốc Tài chính của Huawei, cùng hai công ty con của Huawei đã vi phạm các lệnh trừng phạt của Mỹ với Iran. Đây được coi là động thái có thể làm gia tăng căng thẳng hơn nữa quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc.
Về phía Trung Quốc, Bộ Ngoại giao nước này đã yêu cầu Mỹ ngừng "đàn áp vô lý" các công ty của nước này, trong đó có Huawei, cũng như dỡ bỏ lệnh bắt giữ đối với Giám đốc tài chính Huawei Mạnh Vãn Chu. Bộ Ngoại giao Trung Quốc cũng khẳng định Bắc Kinh sẽ kiên quyết bảo vệ các lợi ích hợp pháp của các công ty Trung Quốc.
Bên cạnh đó, đồn đoán Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tạm dừng tiến trình tăng lãi suất tại cuộc họp chính sách kéo dài hai ngày bắt đầu từ ngày 29/1 cũng là một yếu tố nữa hỗ trợ giá vàng. Fed đã tăng lãi suất bốn lần trong năm 2018 song một số quan chức Fed cho biết cơ quan này sẽ "kiên nhẫn" khi thực hiện kế hoạch tăng lãi suất trong năm 2019 do tình trạng xung đột thương mại trên toàn cầu, việc Chính phủ liên bang Mỹ đóng cửa một phần, niềm tin tiêu dùng và kinh doanh trong nước yếu kém.
Quỹ giao dịch vàng lớn nhất thế giới SPDR Gold Trust cho biết lượng vàng do quỹ này nắm giữ đã tăng 0,73% lên 815,64 tấn tính đến ngày 28/1, mức cao nhất kể từ tháng 6/2018.
Về những kim loại quý khác, giá bạc tăng 0,6% lên 15,84 USD/ounce, sau khi có lúc vọt lên 15.92 USD/ounce - mức cao nhất kể tháng 7/2018. Trong lúc giá bạch kim giảm 0,1% xuống 808,50 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá nhôm tăng, do đồng USD giảm, dự trữ giảm và nước tiêu thụ hàng đầu – Trung Quốc – nỗ lực kích thích tăng trưởng. Giá nhôm giao sau 3 tháng trên sàn London tăng 1,5% lên 1.894 USD/tấn, đưa mức tăng trong tháng 1/2019 lên khoảng 2,5%, do dự trữ nhôm tại LME chạm 1,3 triệu tấn, thấp nhất kể từ tháng 5/2018, cùng với đó là dự trữ tại Thượng Hải chạm 690.000 tấn, giảm 30% kể từ tháng 5/2018.
Trung Quốc công bố các biện pháp nhằm mục đích thúc đẩy doanh số bán các mặt hàng từ xe ô tô, thiết bị gia dụng đến các dịch vụ thông tin, khi nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới tăng trưởng chậm nhất trong gần 30 năm.
Giá quặng sắt tại Trung Quốc tăng, do lo ngại gián đoạn nguồn cung sau thảm họa khai thác quặng gây chết người tại Brazil, song giá thép giảm trước cuộc đàm phán thương mại Mỹ - Trung vào cuối tuần này.
Giá quặng sắt kỳ hạn trên sàn Đại Liên tăng 1,6% lên 562,5 CNY (83,47 USD)/tấn, gần mức cao nhất 16 tháng (567,5 CNY/tấn) trong ngày thứ hai (28/1/2019). Trong khi đó, giá thép cây kỳ hạn trên sàn Thượng Hải giảm gần 1% xuống 3.675 CNY/tấn và giá thép cuộn cán nóng giảm 0,8% xuống 3.589 CNY/tấn.
Trên thị trường nông sản, giá đường thô kỳ hạn tháng 3/2019 giảm 0,1 US cent tương đương 0,8% xuống 12,69 US cent/lb, đường trắng giao cùng kỳ hạn giảm 3,2 USD tương đương 0,9% xuống 342,6 USD/tấn.
Giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 3/2019 giảm 0,05 US cent tương đương 0,1% xuống 1,026 USD/lb, trong khi đó giá cà phê robusta giao cùng kỳ hạn tăng 29 USD tương đương 1,9% lên 1.5237 USD/tấn.
Giá ca cao giảm xuống mức thấp nhất hơn 1 tháng, do lo ngại nguồn cung tại khu vực sản xuất hàng đầu – Tây Phi - giảm bớt, bởi điều kiện thời tiết cải thiện, trong khi giá đường thô giảm.
Giá ca cao kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn New York giảm 33 USD tương đương 1,4% xuống 2.251 USD/tấn, trong phiên có lúc chạm 2.245 USD/tấn, thấp nhất kể từ ngày 21/12/2018. Giá ca cao giao củng kỳ hạn trên sàn London giảm 16 GBP tương đương 1% xuống 1.607 GBP/tấn, thấp nhất kể từ ngày 12/12/2018 (1.602 GBP/tấn).
Giá đường thô kỳ hạn tháng 3/2019 giảm 0,1 US cent tương đương 0,8% xuống 12,69 US cent/lb và giá đường trắng giao cùng kỳ hạn giảm 3,2 USD tương đương 0,9% xuống 342,6 USD/tấn.
Giá lúa mì giảm khoảng 1% xuống mức thấp nhất gần 2 tuần, do lo ngại tiến triển xuất khẩu tại Mỹ chậm lại. Giá lúa mì kỳ hạn tháng 3/2019 trên sàn Chicago giảm 5-1/2 US cent xuống 5,13-1/4 USD/bushel, trong phiên có lúc chạm 5,1-3/4 USD/bushel, thấp nhất kể từ ngày 17/1/2019.
Giá dầu cọ tại Malaysia giảm hơn 1%, thoái lui từ mức tăng mạnh phiên trước đó, do giá dầu đậu tương tại Chicago và giá dầu thô suy yếu.
Giá dầu đậu tương kỳ hạn tháng 4/2019 trên sàn Bursa giảm 1,2% xuống 2.300 ringgit (559,47 USD)/tấn, trong phiên có lúc đạt 2.327 ringgit/tấn.
Giá dầu đậu tương kỳ hạn trên sàn Chicago giảm phiên thứ 2 liên tiếp, do lo ngại căng thẳng thương mại Mỹ - Trung gia tăng và thời tiết tại Brazil cải thiện gây áp lực thị trường.
Giá cao su tại Tokyo giảm, hướng theo giá cao su tại Thượng Hải suy giảm và lo ngại tăng Cao su kỳ hạn tháng 7/2019 trên sàn TOCOM giảm 3,8 JPY (0,0348 USD) xuống 176,9 JPY/kg và giá cao su TSR20 giao cùng kỳ hạn trên sàn TOCOM giảm 3,8 JPY xuống 150,2 JPY/kg. Đồng thời, giá cao su kỳ hạn tháng 5/2019 trên sàn Thượng Hải giảm 210 CNY (31,21 USD) xuống 11.460 CNY/tấn.
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

53,31

+1,32

+2,54%

Dầu Brent

USD/thùng

61,32

+1,39

+2,32%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

40.600,00

+530,00

+1,32%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,95

+0,04

+1,34%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

135,11

+0,02

+0,01%

Dầu đốt

US cent/gallon

189,47

-0,28

-0,15%

Dầu khí

USD/tấn

572,25

+0,25

+0,04%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

56.900,00

+540,00

+0,96%

Vàng New York

USD/ounce

1.317,90

+2,70

+0,21%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.599,00

+24,00

+0,52%

Bạc New York

USD/ounce

15,89

+0,05

+0,29%

Bạc TOCOM

JPY/g

55,80

+0,50

+0,90%

Bạch kim

USD/ounce

814,89

+0,69

+0,08%

Palađi

USD/ounce

1.343,81

+0,50

+0,04%

Đồng New York

US cent/lb

271,95

-0,55

-0,20%

Đồng LME

USD/tấn

6.050,00

+48,00

+0,80%

Nhôm LME

USD/tấn

1.892,00

+25,00

+1,34%

Kẽm LME

USD/tấn

2.656,00

-24,00

-0,90%

Thiếc LME

USD/tấn

20.700,00

+25,00

+0,12%

Ngô

US cent/bushel

377,75

+0,50

+0,13%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

514,25

+1,00

+0,19%

Lúa mạch

US cent/bushel

282,50

+0,50

+0,18%

Gạo thô

USD/cwt

10,73

+0,01

+0,05%

Đậu tương

US cent/bushel

918,25

-0,75

-0,08%

Khô đậu tương

USD/tấn

311,60

-0,20

-0,06%

Dầu đậu tương

US cent/lb

30,11

0,00

0,00%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

484,40

-0,10

-0,02%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.215,00

-35,00

-1,56%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

102,60

-0,05

-0,05%

Đường thô

US cent/lb

12,69

-0,10

-0,78%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

117,45

-0,90

-0,76%

Bông

US cent/lb

74,15

+0,30

+0,41%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

401,50

+11,80

+3,03%

Cao su TOCOM

JPY/kg

179,00

+2,10

+1,19%

Ethanol CME

USD/gallon

1,28

0,00

-0,16%

Nguồn: VITIC/Bloomberg. Reuters. CafeF