Trên thị trường năng lượng, giá dầu Mỹ giảm do lo lắng Saudi Arabia và Nga sẽ mở rộng sản xuất thêm sau hơn một năm giảm tồn kho toàn cầu.
Kết thúc phiên giao dịch, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giảm 1,15 USD xuống 66,73 USD/thùng; dầu Brent tăng 9 US cent lên 75,39 USD/thùng. Dầu Brent đã giảm khoảng 6% kể từ khi đạt 80,5 USD/thùng hôm 17/5, mức cao nhất kể từ năm 2014.
Saudi Arabia và Nga đã thảo luận việc tăng sản lượng dầu của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) và ngoài OPEC thêm 1 triệu thùng/ngày để bù đắp khả năng thiếu hụt nguồn cung từ Iran và Venezuela. Việc tăng sản lượng dầu thô của Mỹ cũng gây áp lực lên thị trường. Công ty dịch vụ dầu khí Baker Hughes cho biết, số lượng giàn khoan của Mỹ đã tăng 15 giàn lên 859 giàn vào tuần trước, và là mức cao nhất kể từ tháng 3/2015.
Tuy nhiên, Credit Suisse ngày 29/5 cho biết ngay cả khi các nhà sản xuất Nga và OPEC nâng sản lượng, họ chỉ có thể bổ sung 500.000 thùng dầu mỗi ngày, điều này khiến tồn kho tại các nước phát triển giảm dưới mức trung bình 5 năm vào cuối năm 2018.
Hiện nay chênh lệch của giá dầu Brent với dầu kỳ hạn của Mỹ vẫn ở mức cao nhất trong hơn 3 năm, nghĩa là xuất khẩu của Mỹ nhanh chóng trở thành cạnh trạnh hơn trên toàn cầu so với dầu từ bắc châu Âu, Nga hay Trung Đông.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng mặc dù đồng USD cũng tăng. Vàng giao ngay tăng 0,18% lên 1.300,01 USD/ounce, trong khi vàng kỳ hạn tháng 6 của Mỹ giảm 0,4% tương đương 4,7 USD xuống 1.299 USD/ounce.
Tình hình chính trị châu Âu có một số diễn biến đáng chú ý. Vàng thường được xem là an toàn, thường tăng khi bất ổn chính trị.
Ngày 28/5, Tổng thống Sergio Mattarella đã bổ nhiệm ông Carlo Cottarelli cựu Giám đốc điều hành của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) làm Thủ tướng lâm thời với nhiệm vụ lập kế hoạch cho các cuộc thăm dò ý kiến và thông qua ngân sách tiếp theo. Các nhà đầu tư lo ngại các cuộc bầu cử lặp lại - có thể diễn ra sớm trong tháng 8 - có thể đóng vai trò như một cuộc trưng cầu dân ý về vai trò của Italy trong Liên minh châu Âu và khu vực đồng euro và củng cố hơn nữa các đảng phái hoài nghi đồng euro.
Trong khi đó, Thủ tướng Tây Ban Nha Mariano Rajoy sẽ phải đối mặt với một cuộc bỏ phiếu tín nhiệm vào thứ Sáu.
Ngoài ra, các thị trường đang đợi số liệu lạm phát của Mỹ trong tuần này để có thể cung cấp những manh mối tăng lãi suất trước cuộc họp chính sách trong tháng 6 của Cục dự trữ Liên bang.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá kẽm và nickel tăng theo xu hướng giá thép. Giá nickel tại sàn giao dịch kim loại London chốt phiên tăng 0,9% lên 14.905 USD/tấn, kể từ đầu tháng 5 giá nickel đã tăng khoảng 10%. Giá nickel trên sàn giao dịch Thượng Hải đã đạt mức cao nhất 3 năm trong ngày 29/5. Kẽm LME tăng 1,3% lên 3.089 USD/tấn. Kim loại này đã giảm 14% từ mức cao nhất 10 năm rưỡi hồi tháng 2. Dự trữ kẽm được đảm bảo tại các kho dự trữ của LME giảm 9,2% xuống 195.325 tấn, cho thấy thị trường hạn hẹp và hỗ trợ giá. Tuy nhiên, dự trữ này vẫn cao hơn nhiều so với mức thấp hồi tháng 4 tại 139.450 tấn.
Thép cây trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải đóng cửa tăng 1,4% lên 3.635 NDT (567 USD)/tấn, trong phiên giá có lúc lên 3.650 NDT, cao nhất một tuần. Giá thép cây tăng gần 16% từ cuối tháng 3 do sự phục hồi theo mùa trong hoạt động xây dựng ở Trung Quốc, khiến các nhà máy tăng cường sản xuất. Dự trữ thép tại Trung Quốc đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ tháng 2.
Quặng sắt giao dịch trên sàn giao dịch hàng hóa Đại Liên tăng 2,3% lên 464,5 NDT/tấn, phục hồi từ đáy phiên trước tại 448,5 NDT, thấp nhất kể từ ngày 18/4. Mặc dù dự trữ quặng sắt ngày càng tăng tại các cảng của Trung Quốc, một số nhà máy thép cho biết họ chỉ dự trữ đủ.
Giá thép tăng kéo nguyên liệu thép tăng theo. Tám khu vực tại Trung Quốc đã cam kết tăng cường các biện pháp chống ô nhiễm. Một đợt trấn áp với ngành công nghiệp gây ô nhiễm tại Trung Quốc đã cắt giảm công suất sản xuất kim loại trong năm ngoái, giúp tăng giá.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica giao tháng 7 giảm 0,15 US cent tương đương 0,1% xuống 1,2025 USD/lb, trong khi robusta giao cùng kỳ hạn giảm 11 USD tương đương 0,6% xuống 1.741 USD/tấn.
Đường thô kỳ hạn tháng 7 không đổi ở 12,46 US cent/lb, trong khi đường trắng giảm 1,3 USD hay 0,4% xuống 350,1 USD/tấn. Thị trường vẫn tập trung vào một vụ đình công của lái xe tải tại Brazil đã giúp nâng giá đường lên mức cao nhất hai tháng trong tuần trước và có thể đe dọa gián đoạn sản lượng từ Brazil, nhà sản xuất đường lớn nhất thế giới. Ngày 28/5 tổ chức UNICA đã dự đoán tất cả các nhà máy sản xuất đường tại bang Sao Paulo sẽ dừng sản xuất trong 24 giờ do ảnh hưởng từ các cuộc biểu tình của lái xe tiếp tục, mặc dù hiệp hội người lái xe đã yêu cầu họ quay trở lại làm việc. Tổ chức Đường Quốc tế dự báo lượng đường toàn cầu dư thừa 10,51 triệu tấn trong niên vụ 2017/18.
Cacao kỳ tại New York tiếp tục giảm xuống mức thấp nhất 7 tuần sau thông tin lượng cacao tới các cảng của Bờ Biển Ngà, nước trồng hàng đầu thế giới, tăng lên.
Giá cacao kỳ hạn tháng 7 tại New York giảm 59 USD hay 2,3% xuống 2.497 USD/tấn sau khi chạm mức thấp nhất 7 tuần tại 2.488 USD/tấn.
Gía cacao cũng bị áp lực bởi đồng bảng Anh suy yếu so với đồng USD, cũng như lượng cacao tại các cảng của Bờ Biển Ngà ước tính cao hơn mức năm trước. Hợp đồng cacao kỳ hạn tháng 7 tại London giảm 29 GBP hay 1,6% xuống 1.815 GBP/tấn.
Giá cao su kỳ hạn tại Tokyo tăng theo xu hướng tăng tại thị trường cao su Thượng Hải, được hỗ trợ bởi hàng hóa công nghiệp kỳ hạn ở Trung Quốc đang tăng. Hợp đồng cao su TOCOM kỳ hạn tháng 11 đóng cửa tăng 0,9 JPY lên 194 JPY/kg. Hợp đồng kỳ hạn tháng 9 trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải tăng 170 NDT (26,5 USD) lên 11.930 NDT/tấn. Tuy nhiên, đà tăng bị hạn chế bởi tồn kho vẫn ở mức cao.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

66,73

-1,15

-1,26%

Dầu Brent

USD/thùng

75,39

+0,09

+0,12%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

47.620,00

-500,00

-1,04%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,90

0,00

-0,17%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

213,72

-0,69

-0,32%

Dầu đốt

US cent/gallon

217,87

-0,72

-0,33%

Dầu khí

USD/tấn

664,75

-2,00

-0,30%

Dầu lửa Tokyo

JPY/kl

65.530,00

-520,00

-0,79%

Vàng New York

USD/ounce

1.304,00

+0,10

+0,01%

Vàng Tokyo

JPY/g

4.529,00

-17,00

-0,37%

Bạc New York

USD/ounce

16,40

+0,02

+0,13%

Bạc Tokyo

JPY/g

57,10

-0,60

-1,04%

Bạch kim

USD/ounce

906,33

+0,63

+0,07%

Palladium

USD/ounce

977,86

-0,31

-0,03%

Đồng New York

US cent/lb

305,35

-0,90

-0,29%

Đồng LME

USD/tấn

6.860,00

-25,00

-0,36%

Nhôm LME

USD/tấn

2.275,00

+12,00

+0,53%

Kẽm LME

USD/tấn

3.089,00

+38,00

+1,25%

Thiếc LME

USD/tấn

20.425,00

+275,00

+1,36%

Ngô

US cent/bushel

396,50

-3,50

-0,87%

Lúa mì

US cent/bushel

528,25

-8,25

-1,54%

Lúa mạch

US cent/bushel

245,50

+1,50

+0,61%

Gạo thô

USD/cwt

11,54

+0,08

+0,65%

Đậu tương

US cent/bushel

1.022,75

-7,75

-0,75%

Khô dầu

USD/tấn

377,90

-2,30

-0,60%

Dầu đậu tương

US cent/lb

31,14

-0,07

-0,22%

Hạt cải

CAD/tấn

536,40

-1,40

-0,26%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.497,00

-59,00

-2,31%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

120,25

-0,15

-0,12%

Đường thô

US cent/lb

12,46

0,00

0,00%

Nước cam

US cent/lb

169,90

+0,60

+0,35%

Bông

US cent/lb

92,31

+1,66

+1,83%

Lông cừu

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

609,10

+9,80

+1,64%

Cao su Tokyo

JPY/kg

192,10

-2,20

-1,13%

Ethanol

USD/gallon

1,51

-0,02

-1,25%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg