Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm sau khi Trung Quốc phát đi tín hiệu nước này sẵn sàng gia tăng căng thẳng thương mại với Mỹ.
Kết thúc phiên, dầu Brent Biển Bắc giảm 0,66 USD, hay 0,9%, xuống còn 69,45 USD/thùng, sau khi có lúc tụt xuống mức thấp nhất trong phiên là 68,08 USD/thùng; dầu thô ngọt nhẹ Mỹ (WTI) giảm 0,33 USD, hay 0,6% và chốt phiên ở mức 58,81 USD/thùng, sau khi có thời điểm rơi xuống 56,88 USD/thùng - mức thấp nhất kể từ ngày 12/3.
Truyền thông Trung Quốc ngày 29/5 cảnh báo rằng nước này sẵn sàng tận dụng vị thế chi phối của họ về đất hiếm để “phản công” lại Mỹ trong cuộc chiến thương mại hiện nay.
Đất hiếm có các thành phần quan trọng dùng trong sản xuất các thiết bị quan trọng, từ điện thoại thông minh, máy ảnh cho đến thiết bị quân sự, và bất cứ động thái nào nhằm hạn chế nguồn cung loại khoáng sản này cũng sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nhà sản xuất. Hiện Trung Quốc cung cấp đến hơn 95% sản lượng đất hiếm của thế giới.
Những lo ngại về khả năng đà tăng trưởng của kinh tế toàn cầu giảm tốc và căng thẳng thương mại Mỹ - Trung đã khiến giới đầu tư quay lưng với những tài sản rủi ro như chứng khoán và dầu, thay vào đó tìm đến các kênh trú ẩn an toàn như trái phiếu chính phủ của Mỹ và Đức.
Dù vậy, giá dầu vẫn đang được hỗ trợ bởi nguồn cung thắt chặt trên toàn cầu nhờ thỏa thuận cắt giảm sản lượng do Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) dẫn dắt và tình hình căng thẳng ở Trung Đông.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng đảo chiều tăng lần tăng đầu tiên trong 3 phiên giao dịch vừa qua do thị trường chứng khoán Mỹ giảm điểm. Cuối phiên giao dịch, giá vàng giao ngay tăng 0,2% lên 1.281,30 USD/ounce, trong khi vàng Mỹ kỳ hạn tháng 6 đóng cửa tăng 0,3% lên 1.281,0 USD/ounce, còn kỳ hạn tháng 7 đóng cửa ở mức 1283,7 USD/ounce.
Giá vàng thường biến động trái chiều với thị trường chứng khoán Mỹ. Khi thị trường chứng khoán tăng điểm thì các nhà đầu tư có thể ngừng mua các tài sản an toàn như vàng.
Tại thị trường chứng khoán Phố Wall vào lúc 00 giờ 45 phút sáng 30/5 (giờ Việt Nam), chỉ số công nghiệp Dow Jones giảm 336,10 điểm, tương đương 1,31%. Trong lúc chỉ số tổng hợp S&P 500 sụt giảm 1,08%, còn chỉ số tổng hợp Nasdaq giảm 1,11%.
Tuy vậy, việc đồng USD mạnh lên đã hạn chế phần nào mức tăng của giá vàng, Chỉ số đồng USD, thước đo giá trị đồng USD so với giỏ gồm sáu đồng tiển chủ chốt khác trên thị trường, đã tăng 0,19% lên 98,14 điểm.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giao tháng 7/2019 tăng 0,64% (hay 0,091 USD) lên 14,411 USD/ounce. Trong khi giá bạch kim giao tháng 7/2019 giảm 0,68% (5,4 USD) xuống 791,7 USD/ounce vào lúc đóng cửa phiên giao dịch.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá đồng giảm xuống mức thấp nhất trong gần 5 tháng do lo sợ căng thẳng thương mại Mỹ - Trung leo thang sẽ gây thiệt hại cho tăng trưởng kinh tế và hạn chế nhu cầu kim loại.
Đồng trên sàn giao dịch kim loại London đã xuống 5.873,5 USD/tấn, thấp nhất kể từ 4/1 trước khi đóng cửa giảm 1,3% xuống 5.883 USD/tấn.
Giá đồng đã giảm 11% kể từ khi chạm đỉnh 9 tháng khoảng 6.600 USD vào giữa tháng 4. Động thái lấy lại mức 6.000 USD không thành công đã thúc đẩy các nhà đầu cơ giảm giá.
Giá quặng sắt tại Trung Quốc giảm từ mức cao kỷ lục đạt được trong vài phiên qua, sau khi sàn giao dịch hàng hóa Đại Liên (DCE) thông báo tăng phí giao dịch đối với một số hợp đồng kỳ hạn.
Trong thông báo ngày 28/5 gửi tới các thành viên, DCE cho biết phí giao dịch tăng sẽ bắt đầu có hiệu lực vào ngày 30/5. Hợp đồng quặng sắt được giao dịch nhiều nhất trên sàn giao dịch hàng hóa Đại Liên kết thúc phiên giảm 1,6% xuống 748 CNY (108,17 USD)/tấn, sau khi giảm khoảng 3,8% trong đầu phiên giao dịch.
Helen Lau, nhà phân tích kim loại và khai mỏ tại công ty chứng khoán Argonaut, Hong Kong cho biết một số nhà đầu tư đã lựa chọn giảm số hợp đồng và chốt lời sau thông báo của DCE. Hầu hết các tổ hợp kim loại đen của Trung Quốc đều giảm, giá thép cây trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải xuống thấp nhất trong hơn một tuần.
Quặng sắt giao ngay tới Trung Quốc với hàm lượng 62% tăng lên mức cao nhất 5 năm tại 108,5 USD/tấn trong ngày 28/5, theo công ty tư vấn SteelHome.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica tại London tăng lên mức cao nhất kể từ ngày 13/2 trong phiên 29/5 do yếu tố kỹ thuật và đồng nội tệ của Brazil mạnh lên.
Cà phê arabica kỳ hạn tháng 7 đóng cửa tăng 3,45 US cent hay 3,6% lên 99,50 US cent /lb.
Các đại lý cho biết thời tiết lạnh tại Brazil đã hỗ trợ giá mặc dù vẫn không có mối đe dọa ngay lập tức về tác động của băng giá đối với cây trồng, nhưng động lực tăng giá chính hiện nay là yếu tố kỹ thuật.
Đồng real của Brazil cũng phục hồi trong vài ngày qua làm giảm lợi nhuận cho các mặt hàng tính bằng USD như cà phê và đường do đó không khuyến khích nông dân bán ra.
Cà phê robusta kỳ hạn tháng 7 tăng 40 USD hay 2,9% lên 1.412 USD/tấn.
Xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2019 có thể giảm 13,1% so với cùng kỳ một năm trước xuống 767.000 tấn.
Giá đường thô kỳ hạn tháng 7 đóng cửa tăng 0,12 US cent hay 1% lên 11,87 USD/lb.
Thị trường được hỗ trợ một phần bởi sức mạnh của thị trường hàng hóa nông nghiệp bao gồm ngũ cốc và cà phê, nhưng chiều tăng vẫn bị hạn chế do nguồn cung dồi dào.
Đường trắng kỳ hạn tháng 8 tăng 0,3 USD hay 0,2% lên 325,9 USD/tấn.
Nhà sản xuất đường và ethanol Usina Santa Adélia sẽ đóng cửa một trong số 3 nhà máy của họ tại Sao Paulo để cắt giảm chi phí và tăng hiệu quả.
Giá cao su trên sàn giao dịch hàng hóa Tokyo (TOCOM) tăng trong ngày 29/5, với hợp đồng kỳ hạn tháng 11/2019 đóng cửa tăng 0,4 JPY hay 0,2% lên 193 JPY/kg.
Hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải tăng 300 CNY hay 2,5% lên 12.200 CNY/tấn.
Cả sản lượng và dự trữ của các nguồn cung cao su tự nhiên toàn cầu đã giảm trong những tháng gần đây và mức dự trữ thấp hơn dự kiến, theo Chaiyos Sincharoenkul, chủ tịch Hiệp hội Cao su Thái Lan.
Nguồn cung cao su toàn cầu ở mức 14 triệu tấn trong năm 2019, tăng 2% so với năm 2018, trong khi nhu cầu toàn cầu dự báo tăng 2,4% lên 14,31 triệu tấn.
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

58,81

-0,33

-0,6%

Dầu Brent

USD/thùng

69,45

-0,66

-0,9%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

43.500,00

+170,00

+0,39%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,63

+0,05

+1,98%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

194,10

-0,42

-0,22%

Dầu đốt

US cent/gallon

197,22

+0,47

+0,24%

Dầu khí

USD/tấn

607,50

+1,75

+0,29%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

60.220,00

+110,00

+0,18%

Vàng New York

USD/ounce

1.283,30

-3,00

-0,23%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.497,00

+4,00

+0,09%

Bạc New York

USD/ounce

14,37

-0,04

-0,28%

Bạc TOCOM

JPY/g

50,60

-0,10

-0,20%

Bạch kim

USD/ounce

793,48

-0,31

-0,04%

Palađi

USD/ounce

1.345,60

-2,58

-0,19%

Đồng New York

US cent/lb

267,35

+0,95

+0,36%

Đồng LME

USD/tấn

5.883,00

-77,00

-1,29%

Nhôm LME

USD/tấn

1.795,00

-12,00

-0,66%

Kẽm LME

USD/tấn

2.541,00

-21,00

-0,82%

Thiếc LME

USD/tấn

18.715,00

-485,00

-2,53%

Ngô

US cent/bushel

415,25

-3,50

-0,84%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

489,00

-1,50

-0,31%

Lúa mạch

US cent/bushel

316,50

+1,50

+0,48%

Gạo thô

USD/cwt

11,68

-0,04

-0,30%

Đậu tương

US cent/bushel

868,75

-3,25

-0,37%

Khô đậu tương

USD/tấn

317,30

-1,70

-0,53%

Dầu đậu tương

US cent/lb

27,79

+0,06

+0,22%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

458,00

-0,20

-0,04%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.438,00

-12,00

-0,49%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

99,50

+3,45

+3,59%

Đường thô

US cent/lb

11,87

+0,12

+1,02%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

103,20

-1,20

-1,15%

Bông

US cent/lb

68,91

-0,15

-0,22%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

316,20

+8,70

+2,83%

Cao su TOCOM

JPY/kg

195,40

+2,40

+1,24%

Ethanol CME

USD/gallon

1,45

-0,03

-1,96%

Nguồn: Bloomberg, Reuters, CafeF