Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng giữa bối cảnh giới đầu tư kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) hạ lãi suất át đi quan ngại về triển vọng kém lạc quan của cuộc đàm phán thương mại Mỹ-Trung và những lo ngại về tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm lại.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu Brent Biển Bắc tăng 25 UScent lên 63,71 USD/thùng, trong khi dầu thô ngọt nhẹ Mỹ (WTI) tăng 67 UScent lên 56,87 USD/thùng.
Các nhà giao dịch và đầu tư đang chờ đợi cuộc họp của ngân hàng trung ương Mỹ trong tuần này (30 và 31/7/2019) với kỳ vọng Fed sẽ hạ chi phí cho vay lần đầu tiên kể từ cuộc khủng hoảng tài chính kéo dài hơn một thập niên trước. Tuy nhiên, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã nói rằng mức cắt giảm lãi suất nhẹ của Fed là chưa đủ.
Trong khi đó, các nhà đàm phán của Mỹ và Trung Quốc dự kiến sẽ gặp mặt trong tuần này và đây là cuộc đàm phán trực tiếp đầu tiên giữa hai bên kể từ thỏa thuận đình chiến đạt được tại Hội nghị Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20) hồi tháng trước. Tuy nhiên, Tổng thống Trump nói rằng Trung Quốc có thể không muốn ký một thỏa thuận thương mại cho đến sau khi kết thúc cuộc bầu cử Mỹ năm 2020.
Ngoài ra, giá dầu thô còn được hỗ trợ bởi yếu tố rủi ro cao về nguồn cung do tình hình căng thẳng tại Eo biển Hormuz, hành lang trung chuyển của khoảng 20% lượng dầu trên thế giới.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng vững cũng bởi kỳ vọng Fed sẽ hạ lãi suất. Ngoài ra, các nhà đầu tư cũng chờ đợi để tìm kiếm thêm manh mối về lộ trình nới lỏng tiền tệ trong tương lai của ngân hàng trung ương Mỹ.
Cuối phiên giao dịch, giá vàng giao ngay tăng 0,2% lên 1.420,51 USD/ounce, trong khi giá vàng kỳ hạn nhích 0,1% lên 1.420,40 USD/ounce.
Fed được dự đoán sẽ cắt giảm lãi suất ít nhất 25 điểm cơ bản tại cuộc họp sẽ diễn ra vào hai ngày 30-31/7 tới. Giới đầu tư cũng sẽ tìm kiếm dấu hiệu cho những đợt hạ lãi suất tiếp theo. Triển vọng này sẽ khiến đồng USD yếu đi và qua đó tiếp thêm lực đẩy cho giá vàng.
Trước đó, đồng USD đã giao dịch gần mức đỉnh của hai tháng so với rổ tiền tệ chủ chốt. Đồng bạc xanh mạnh thường khiến những tài sản được giao dịch bằng đồng bạc xanh như vàng trở nên đắt đỏ hơn đối với những nhà đầu tư nắm giữ đồng tiền khác.
Ngoài ra, các nhà giao dịch và đầu tư trên thị trường cũng sẽ theo dõi sát sao cuộc đàm phán thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc cũng sẽ diễn ra trong tuần này tại Thượng Hải. Đây là vòng đàm phán trực tiếp đầu tiên kể từ khi hai bên đạt được thỏa thuận "đình chiến" tại G20 vào tháng trước. Tuy nhiên, không có nhiều kỳ vọng về khả năng hai bên đạt được đột phá lớn trong các cuộc đàm phán sắp tới.
Chuyên gia phân tích Helen Lau của công ty Argonaut Securities cho rằng, nếu các cuộc đàm phán tiếp tục bế tác thì sẽ tác động tiêu cực đến kinh tế toàn cầu và khiến ngân hàng trung ương nhiều nước trên thế giới, không chỉ Mỹ, buộc hải nới lỏng tiền tệ. Và điều đó sẽ hỗ trợ giá vàng.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giao ngay nhích nhẹ 0,1% lên 16,40 USD/ounce; palađi tăng 1,3% lên 1.555,62 USD/ounce, sau khi chạm mức cao nhất trong gần hai tuần; trong khi bạch kim tăng 2% lên 877,50 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá đồng tăng trong phiên giao dịch vừa qua trước khi Mỹ và Trung Quốc tiến hành đàm phán, mặc dù kết quả kinh doanh của nhiều công ty Trung Quốc (hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp) bị giảm sút, gây lo ngại về nhu cầu yếu đi ở quốc gia tiêu thụ đồng hàng đầu thế giới. Kết thúc phiên giao dịch, giá đồng kỳ hạn giao sau 3 tháng trên sàn London tăng 0,9% lên 6.018 USD/tấn. Nhôm cũng có chung xu hướng khi tăng 0,5% lên 1.811 USD/tấn.
Tuần này sẽ có rất nhiều sự kiện tác động lên thị trường kim loại cơ bản. Bên cạnh tiến triển cuộc đàm phán Mỹ - Trung, các nhà đầu tư đang chờ đợi những dữ liệu kinh tế quan trọng như chỉ số PMI của Trung Quốc, báo cáo về thị trường việc làm hàng tháng, chỉ số sản lượng công nghiệp Nhật Bản, số liệu về tăng trưởng kinh tế khu vực đồng euro…
Đặc biệt, kinh tế Trung Quốc tăng chậm lại khiến các nhà đầu tư hy vọng Chính phủ nước này sẽ tăng chi tiêu cho cơ sở hạ tầng thêm 10% trong tháng cuối năm 2019 (so với cùng kỳ năm ngoái), khi đó nhu cầu đồng chắc chắn sẽ tăng lên.
Đối với những kim loại công nghiệp khác, giá kẽm tăng 1,3% lên 2.469 USD/tấn, được hỗ trợ bởi nhập khẩu kẽm tinh luyện vào Trung Quốc tháng 6/2019 tăng 57% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 56.878 tấn; giá nhôm tăng 0,5% đạt 1.811 USD/tấn; chì giảm 0,9% xuống 2.047 USD/tấn; thiếc giảm 0,3% xuống 17.600 USD/tấn; và nickel tăng 1,8% lên 14.360 USD/tấn.
Giá thép trên thị trường Trung Quốc giảm xuống mức thấp nhất 5 tuần vì thành phố Đường Sơn (nơi sản xuất thép hàng đầu Trung Quốc) sắp kết thúc giai đoạn hạn chế sản xuất thép.
Thép cây trên sàn Thượng Hải kỳ hạn tháng 10/2019 giảm 1,9% xuống 3.77 CNY (562,77 USD)/tấn. Thép cuộn cán nóng cũng giảm 1,8% xuống 3.797 CNY/tấn. Cả 2 mức giá tên đều thấp nhất kể từ 21/6/2019.
Đường Sơn đã buộc các nhà sản xuất thép phải cắt giảm 20% - 70% công suất sản xuất thép, bắt đầu từ 21/7/2019 và sẽ kết thúc vào ngày 31/7/2019.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica trên sàn New York vừa đảo chiều tăng phiên đầu tiên trong vòng 7 phiên, do dự báo sẽ có sương giá ở Brazil trong những ngày tới.
Lúc kết thúc phiên giao dịch, cà phê arabica kỳ hạn tháng 9/2019 giá tăng 1,4 UScent tương đương 1,4% lên 1,0115 USD/lb; hồi phục từ mức thấp nhất hơn 1 tháng là 98,75 USD lúc đầu phiên vừa qua.
Hợp đồng arabica kỳ hạn tháng 8/2019 đã giảm 5,8% trong tuần qua, mức giảm nhiều nhất trong vòng 2 năm.
Đối với robusta, kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn London giá tăng 27 USD tương đương 2% trong phiên vừa qua, lên 1.371 USD/tấn. Xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm nay ước tính giảm 7,6% so với cùng kỳ năm ngoái.
Giá đường thô kỳ hạn giao tháng 10/2019 tăng 0,05 UScent tương đương 0,4% lên 12,07 UScent/lb; đường trắng cùng kỳ hạn tăng 1,1 USD tương đương 0,3% lên 322,1 USD/tấn, sau khi có lúc chạm mức cao nhất gần 1 tháng là 325,6 USD/tấn.
Giá lúa mì tăng do dự báo sản lượng của Nga sụt giảm. Trên sàn Chicago, giá lúa mì tăng 7% Trong khi đó tại Nga, lúa mì Biển Đen loại 12,5% protein nhìn chung giữ vững ở mức cao 193 USD/tấn (FOB) trong suốt một tuần nay; công ty tư vấn SovEcon ở Moscow báo giá lúa mì tăng 2 USD so với cách đây một tuần, lên 197 USD/tấn.
SovEcon hôm 26/7/2019 đã hạ dự báo về xuất khẩu ngũ cốc của họ trong niên vụ 2019/20 (bắt đầu từ 1/7/2019) xuống còn 41,9 triệu tấn, trong đó xuất khẩu lúa mì giảm 6,2 triệu tấn xuống còn 31,4 triệu tấn.
Tuy nhiên, cơ quan tư vấn nông nghiệp của Nga, IKAR, cho biết, theo số liệu sơ bộ của cơ quan thống kê Nga – Rosstat – thì diện tích trồng lúa mì Nga vụ này cao hơn 0,3 triệu ha so với con số ước tính của SovEcon. Ngày 29/7/2019, IKAR đã nâng dự báo về sản lượng lúa mì Nga năm 2019 lên 76,4 triệu tấn. Mặc dù vậy, IKAR cũng cho rằng thiếu mưa ở một số khu vực thuộc Siberia có thể gây sai số lớn trong dự báo này. Xuất khẩu ngũ cốc nga từ 1 đến 25/7/2019 giảm 21% so với cùng kỳ năm ngoái, chỉ đạt 2,59 triệu tấn.
Giá cao su trên sàn Tokyo giảm trong phiên vừa qua giữa bối cảnh giới đầu tư dõi theo cuộc đàm phán thương mại Mỹ - Trung. Kết thúc phiên giao dịch, cao su kỳ hạn tháng 1/2019 trên sàn Tokyo giảm 2,4 JPY tương đương 1,3% xuống 181 JPY (1,67 USD)/kg. Tuy nhiên, cao su TSR20 trên sàn này có giá vững ở mức khoảng 108,63 JPY/kg. Tại Thượng Hải, cao su kỳ hạn tháng 9/2019 tăng 120 CNY lên 10,685 CNY (1.550 USD)/tấn; trong khi đó, giá cao su hợp đồng kỳ hạn tháng 8/2019 trên sàn Singapore giảm 1,6% xuống 138,1 UScent/kg.

Giá hàng hóa thế giới

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

56,87

+0,67

Dầu Brent

USD/thùng

63,71

+0,25

+0,39%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

40.350,00

+540,00

+1,36%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,14

-0,03

-1,29%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

187,39

+1,05

+0,56%

Dầu đốt

US cent/gallon

191,57

+0,51

+0,27%

Dầu khí

USD/tấn

586,75

+2,75

+0,47%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

58.060,00

+620,00

+1,08%

Vàng New York

USD/ounce

1.437,60

+4,30

+0,30%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.971,00

+31,00

+0,63%

Bạc New York

USD/ounce

16,47

+0,03

+0,18%

Bạc TOCOM

JPY/g

57,40

+0,50

+0,88%

Bạch kim

USD/ounce

880,23

-0,44

-0,05%

Palađi

USD/ounce

1.555,64

+1,61

+0,10%

Đồng New York

US cent/lb

272,00

+0,25

+0,09%

Đồng LME

USD/tấn

6.018,00

+55,00

+0,92%

Nhôm LME

USD/tấn

1.811,00

+9,00

+0,50%

Kẽm LME

USD/tấn

2.469,00

+31,00

+1,27%

Thiếc LME

USD/tấn

17.600,00

-50,00

-0,28%

Ngô

US cent/bushel

427,00

+2,50

+0,59%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

503,50

+7,50

+1,51%

Lúa mạch

US cent/bushel

264,25

+1,25

+0,48%

Gạo thô

USD/cwt

12,31

+0,12

+0,94%

Đậu tương

US cent/bushel

904,25

+3,25

+0,36%

Khô đậu tương

USD/tấn

311,50

+1,80

+0,58%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,97

-0,05

-0,17%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

449,40

-1,10

-0,24%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.383,00

-6,00

-0,25%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

101,15

+1,40

+1,40%

Đường thô

US cent/lb

12,07

+0,05

+0,42%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

101,70

-0,75

-0,73%

Bông

US cent/lb

64,21

-0,33

-0,51%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

335,80

+2,10

+0,63%

Cao su TOCOM

JPY/kg

180,60

-0,40

-0,22%

Ethanol CME

USD/gallon

1,49

+0,00

+0,13%

Nguồn: VITIC/Bloomberg, Reuters