Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm nhẹ nhưng vẫn quanh mức cao nhất 4 năm do do lo ngại về nguồn cung toàn cầu sẽ giảm vì lệnh trừng phạt của Mỹ đối với Iran.
Kết thúc phiên, dầu Brent Biển Bắc giảm 18 US cent xuống 84,8 USD/thùng, dầu ngọt nhẹ (WTI) giảm 7 US cent xuống 75,23 USD/thùng.
Kết quả thăm dò do hãng Reuters tiến hành cho thấy các chuyên gia dự báo lượng dầu dự trữ tại các kho của Mỹ đã tăng khoảng 2 triệu thùng trong tuần trước, trước khi Viện Xăng dầu Mỹ (API) và Bộ Năng lượng Mỹ công bố báo cáo dữ liệu về tình hình nguồn cung vào ngày 3/10.
Lệnh trừng phạt của Mỹ đối với lĩnh vực dầu mỏ Iran, nước cung cấp gần 3% lượng dầu tiêu thụ hàng ngày của thế giới, dự kiến sẽ có hiệu lực từ ngày 4/11/2018. Sản lượng dầu của Iran trong tháng 9/2018 đã giảm khoảng 100.000 thùng/ngày, trong khi tổng sản lượng từ Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) tăng khoảng 90.000 thùng/ngày từ tháng 8/2018.
Trong báo cáo triển vọng Kinh tế toàn cầu quý IV, ngân hàng HSBC cho biết các chuyên gia phụ trách lĩnh vực dầu mỏ của ngân hàng dự báo giá “vàng đen” có thể chạm mức 100 USD/thùng.
Giá dầu đã tăng gần ba lần so với mức thấp ghi nhận được trong tháng 1/2016 sau khi các nước trong và ngoài OPEC, trong đó có Nga, thực hiện cắt giảm sản lượng.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng lên mức cao nhất trong vòng hơn 1 tuần khi các nhà đầu tư tìm đến vàng như một nơi trú ẩn an toàn sau làn sóng bán tháo trên các thị trường chứng khoán.
Kết thúc phiên, giá vàng giao ngay tăng 1,3% lên 1.202,81 USD/ounce, mức tăng mạnh nhất kể từ 24/8/2018; vàng giao tháng 12/2018 tăng 1,28% lên 1.207 USD/ounce.
Chứng khoán thế giới đồng loạt đi xuống sau khi người phát ngôn phụ trách kinh tế của đảng cầm quyền Italy Claudio Borghi nói rằng hầu hết các vấn đề của đất nước có thể được giải quyết thông qua hệ thống tiền tệ riêng.
Đồng USD tăng đã không tác động tới thị trường vàng trong phiên vừa qua.
Từ đầu năm đến nay, giá vàng đã giảm sáu tháng, để mất 13% giá trị, chủ yếu do đồng USD mạnh giữa bối cảnh nền kinh tế Mỹ vững mạnh, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất, lo ngại về một cuộc chiến tranh thương mại quy mô toàn cầu. Chủ tịch Fed Jerome Powell ngày 2/10 đánh giá cao “triển vọng rất tích cực” của nền kinh tế Mỹ.
Thị trường đang chờ đợi dữ liệu việc làm phi nông nghiệp của Mỹ, dự kiến công bố vào ngày 5/10, nhằm tìm kiếm thêm các chỉ dấu về thể trạng nền kinh tế Mỹ.
Về những kim loại quý khác, giá bạc tăng 1,6% lên 14,69 USD/ounce; bạch kim tăng 0,6% lên 826,49 USD/ounce trong khi palađi giảm 0,3% xuống 1.053 USD/ounce.
Trên thị trường nông sản, đồng real Brazil tăng mạnh và tâm lý lạc quan của các nhà đầu tư giúp giá đường và cà phê tăng hơn 5%, trong khi giá ca cao tăng khỏi mức thấp nhất 9 tháng do hoạt động mua đầu cơ từ ngành công nghiệp.
Đường thô kỳ hạn tháng 3/2019 tăng 0,46 US cent tương đương 4% lên 12,07 US cent/lb, trong phiên có lúc tăng 5,6% lên 12,26 US cent/lb, cao nhất kể từ ngày 26/6/2018 và giá đường trắng kỳ hạn tháng 12/2018 tăng 6,3 USD tương đương 1,9% lên 333,5 USD/tấn, trong phiên có lúc tăng 3,6% lên 338,8 USD/tấn.
Giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 12/2018 tăng 5,45 US cent tương đương 5,3% lên 1,0765 USD/lb, trong phiên có lúc tăng lên 1,0815 USD/lb, cao nhất kể từ đầu tháng 6/2018 và giá cà phê robusta kỳ hạn tháng 11/2018 tăng 32 USD tương đương 2% lên 1.604 USD/tấn, trong phiên có lúc đạt 1.607 USD/tấn, cao nhất kể từ ngày 21/9/2018.
Giá ca cao kỳ hạn tháng 12/2018 trên sàn London tăng 78 GBP tương đương 5,3% lên 1.541 GBP/tấn, trước đó trong phiên tăng 5,9% lên 1.549 GBP/tấn và giá ca cao giao cùng kỳ hạn trên sàn New York tăng 96 USD tương đương 4,8% lên 2.086 USD/tấn, trong phiên có lúc tăng 5,4% lên 2.097 USD/tấn.
Giá ngô và đậu tương tăng phiên thứ 2 liên tiếp, do dự kiến nhu cầu được cải thiện sau khi giá giảm mới đây và thời tiết mưa tại khu vực Trung tây Mỹ đe dọa tiến độ vụ thu hoạch.
Giá ngô kỳ hạn tháng 12/2018 trên sàn Chicago tăng 1-3/4 US cent 3,67-1/2 USD/bushel, cao nhất 3 tuần. Giá đậu tương kỳ hạn tháng 11/2018 trên sàn Chicago tăng 8-1/4 US cent lên 8,66 USD/bushel, cao nhất 5,5 tuần. Ngô và đậu tương được hỗ trợ bởi giá lúa mì đảo chiều tăng hơn 2%, do lo ngại khả năng vận chuyển ngũ cốc tại 2 khu vực xuất khẩu của Nga bị ngừng trệ. Giá lúa mì kỳ hạn tháng 12/2018 trên sàn Chicago tăng 9-3/4 US cent lên 5,19-1/4 USD/bushel, cao nhất 1 tuần.
Giá cao su kỳ hạn tại Tokyo tăng phiên thứ 3 liên tiếp và đạt mức cao nhất 1 tháng, được hỗ trợ bởi giá dầu tăng lên mức cao nhất nhiều năm và đồng JPY giảm thấp nhất 11 tháng so với đồng USD. Giá cao su kỳ hạn tháng 3/2019 trên sàn Tokyo tăng 0,9 JPY lên 172,4 JPY (1,52 USD)/kg, trong phiên có lúc đạt 174,2 JPY/kg, cao nhất kể từ ngày 3/9/2018. Trong khi đó, giá cao su kỳ hạn tháng 11/2018 trên sàn SICOM tăng 0,4 US cent lên 134,1 US cent/kg.
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

75,23

-0,07

 

Dầu Brent

USD/thùng

84,8

-0,18

 

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

56.450,00

-270,00

-0,48%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,17

+0,00

+0,06%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

212,64

-0,05

-0,02%

Dầu đốt

US cent/gallon

240,64

-0,12

-0,05%

Dầu khí

USD/tấn

739,00

-3,00

-0,40%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

73.960,00

-390,00

-0,52%

Vàng New York

USD/ounce

1.209,60

+2,60

+0,22%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.392,00

+39,00

+0,90%

Bạc New York

USD/ounce

14,78

+0,08

+0,56%

Bạc TOCOM

JPY/g

53,80

+0,60

+1,13%

Bạch kim

USD/ounce

830,90

-0,10

-0,01%

Palađi

USD/ounce

1.056,98

+1,52

+0,14%

Đồng New York

US cent/lb

280,55

-0,10

-0,04%

Đồng LME

USD/tấn

6.280,00

+31,00

+0,50%

Nhôm LME

USD/tấn

2.118,00

+34,00

+1,63%

Kẽm LME

USD/tấn

2.665,00

+9,00

+0,34%

Thiếc LME

USD/tấn

18.955,00

-20,00

-0,11%

Ngô

US cent/bushel

368,00

+0,50

+0,14%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

520,75

+1,50

+0,29%

Lúa mạch

US cent/bushel

274,75

+1,75

+0,64%

Gạo thô

USD/cwt

10,31

+0,04

+0,39%

Đậu tương

US cent/bushel

868,50

+2,50

+0,29%

Khô đậu tương

USD/tấn

315,50

+0,40

+0,13%

Dầu đậu tương

US cent/lb

29,69

+0,03

+0,10%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

498,10

+0,40

+0,08%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.086,00

+96,00

+4,82%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

107,65

+5,45

+5,33%

Đường thô

US cent/lb

12,07

+0,46

+3,96%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

146,75

+0,65

+0,44%

Bông

US cent/lb

76,40

+0,21

+0,28%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

346,30

+8,90

+2,64%

Cao su TOCOM

JPY/kg

171,00

-1,40

-0,81%

Ethanol CME

USD/gallon

1,32

+0,01

+0,38%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg