Trên thị trường năng lượng, giá dầu quay đầu giảm khi giới đầu tư lại dấy lên lo ngại về khả năng dư cung nếu khả năng hoạt động khai thác dầu gia tăng tại Mỹ khiến kế hoạch cắt giảm sản lượng trở nên "vô tác dụng".
Đóng cửa phiên giao dịch, dầu thô ngọt nhẹ giao tháng 3/2017 trên sàn New York giảm 34 US cent tương đương 0,6% xuống 53,54 USD/thùng, trong khi đó dầu Brent cùng kỳ hạn trên sàn London giảm 24 US cents tương đương 0,4% xuống 56,56 USD/thùng.
Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ, trong tuần kết thúc vào ngày 27/1, dự trữ dầu thô của nước này đã “bất ngờ” tăng tới 6,5 triệu thùng lên 494,8 triệu thùng.
Mức tăng này cao hơn rất nhiều so với con số dự báo tăng 3,3 triệu thùng của các chuyên gia phân tích.
Các nhà phân tích nhận định giới đầu tư lo ngại về tình trạng dư dôi nguồn cung dầu mỏ toàn cầu bởi sản lượng khai thác dầu ở Mỹ tăng sẽ bù đắp một phần sản lượng cắt giảm theo thỏa thuận đạt được giữa các nước trong và ngoài Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC).
Về thông tin liên quan, Bộ trưởng Năng lượng Nga Alexander Novak dự đoán giá dầu sẽ dao động trong khoảng 50-60 USD/thùng trong năm nay.
Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC), Nga cùng một số nhà sản xuất dầu mỏ khác đã đồng ý cắt giảm sản lượng tổng cộng 1,8 triệu thùng/ngày trong nửa đầu năm 2017.
Theo số liệu vừa được Bộ Năng lượng Nga công bố, nước này đã cắt giảm sản lượng dầu 100.000 thùng/ngày trong tháng 1/2017 theo cam kết hồi tháng 12/2016 nhằm chấm dứt tình trạng dư cung và đưa giá dầu tăng trở lại.
Việc sản lượng dầu của Nga giảm lần tiên kể từ tháng Tám năm ngoái thể hiện quyết tâm của Moskva trong việc tuân thủ cam kết giảm sản lượng. Cụ thể, sản lượng dầu mỏ và khí ngưng tụ của Nga trong tháng 1/2017 đã giảm từ 11,21 triệu thùng/ngày hồi tháng 12/2016 xuống 11,11 triệu thùng/ngày.
Nhà sản xuất dầu hàng đầu của Nga Rosneft đã cắt giảm 0,5% sản lượng trong tháng Giêng vừa qua, trong khi mức giảm sản lượng của Lukoil, Surgutneftegaz và Tatneft lần lượt là 1%, 1,2% và 3,7%.
Tuy nhiên, lượng dầu xuất khẩu theo đường ống của Nga đã tăng từ 4,358 triệu thùng/ngày trong tháng 12/2016 lên 4,409 triệu thùng/ngày trong tháng 1/2017.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng lên mức cao nhất trong vòng 11 tuần sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) không đưa ra dấu hiệu rõ ràng nào về khả năng nâng lãi suất trong tháng Ba, qua đó đẩy đồng USD đi xuống.
Giá vàng giao ngay có thời điểm vọt lên 1.225,30 USD/ounce, mức cao nhất kể từ ngày 17/11/2016, trong khi đó giá vàng giao tháng 4/2017 tăng 0,9% lên 1.219,40 USD/ounce.
Đồng USD đã giảm giá mạnh trong tháng 1/2017. Bên cạnh đó, mối lo ngại về căng thẳng chính trị cũng hỗ trợ đà tăng của giá vàng.
Trên thị trường nông sản, giá đường thô giảm mạnh từ mức cao nhất 2 tuần. Thị trường đang theo dõi xem liệu Ấn Độ - nước tiêu thụ đường hàng đầu thế giới – có giảm thuế nhập khẩu đường hay không.
Trên sàn New York, giá đường thô kỳ hạn giao tháng 3 giảm 0,29 US cent hay 1,4% xuống 20,55 US cent/lb từ mức 21,2 US cent – cao nhất kể từ ngày 19/1 – trước đó. Đường trắng giao tháng 5 giảm 3,40 USD hay 0,6% xuống 546,90 USD/tấn.
Cà phê robusta vừa qua phiên giảm giá mạnh nhất kể từ tháng 12, giảm giá mạnh từ mức cao nhất 5 tháng rưỡi, khi thị trường Việt Nam trở lại giao dịch sau một tuần nghỉ lễ. Cà phê arabica cũng giảm giá xuống mức thấp nhất hơn 3 tuần.
Robusta giao tháng 3 giảm 58 USD hay 2,6% xuống 2.185 USD/tấn. Thị trường đang theo dõi xem liệu tình trạng khan hiếm nguồn cung có buộc Brazil phải nhập khẩu cà phê lần đầu tiên trong vòng 3 thập kỷ hay không.
Cà phê arabica giao tháng 3 cũng giảm 4,2 US cent hay 2,8% xuống 1,4595 USD/lb.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

53,54

-0.34

-0,6%

Dầu Brent

USD/thùng

56,56

-0,24

+0,4%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

38.960,00

+80,00

+0,21%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,20

+0,01

+0,25%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

154,10

+0,81

+0,53%

Dầu đốt

US cent/gallon

166,03

+0,85

+0,51%

Dầu khí

USD/tấn

501,50

-2,75

-0,55%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

47.540,00

+210,00

+0,44%

Vàng New York

USD/ounce

1.218,10

+1,30

+0,11%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.389,00

-1,00

-0,02%

Bạc New York

USD/ounce

17,44

+0,01

+0,03%

Bạc TOCOM

JPY/g

62,90

-0,50

-0,79%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

996,40

-4,02

-0,40%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

760,97

+2,22

+0,29%

Đồng New York

US cent/lb

267,60

-0,95

-0,35%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

5.886,00

-59,00

-0,99%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

1.829,00

+10,00

+0,55%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.851,00

-29,00

-1,01%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

19.840,00

-10,00

-0,05%

Ngô

US cent/bushel

367,50

0,00

0,00%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

434,50

0,00

0,00%

Lúa mạch

US cent/bushel

256,50

+1,50

+0,59%

Gạo thô

USD/cwt

9,60

+0,07

+0,68%

Đậu tương

US cent/bushel

1.043,50

+6,25

+0,60%

Khô đậu tương

USD/tấn

335,80

+2,00

+0,60%

Dầu đậu tương

US cent/lb

34,66

+0,07

+0,20%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

515,40

+0,20

+0,04%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.084,00

-25,00

-1,19%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

145,95

-4,20

-2,80%

Đường thô

US cent/lb

20,55

-0,29

-1,39%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

166,40

-4,95

-2,89%

Bông

US cent/lb

76,91

+0,47

+0,61%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

347,90

+10,00

+2,96%

Cao su TOCOM

JPY/kg

308,60

-1,10

-0,36%

Ethanol CME

USD/gallon

1,52

+0,00

+0,26%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg