Trên thị trường năng lượng, giá dầu dầu Brent chạm mức thấp nhất kể từ cuối tháng 11/2016, xóa sạch các thành quả đạt được kể từ khi Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) bắt đầu cắt giảm sản lượng.
Các nhà đầu tư đang tích cực bán tháo chốt lời theo sau báo cáo cho thấy sản lượng tăng lên tại Mỹ, Canada và Libya và mức độ tuân thủ thỏa thuận cắt giảm sản lượng trong nửa đầu năm của các thành viên OPEC giảm xuống.
Chốt phiên giao dịch, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) trên sàn New York giảm 1,18 USD (2,4%) xuống 47,66 USD/thùng, thấp nhất kể từ ngày 21/3; dầu Brent Biển Bắc giảm 1,06 USD (2,1%) xuống 50,46 USD/thùng, thấp nhất kể từ ngày 29/11/2016, một ngày trước khi OPEC nhất trí cắt giảm sản lượng.
Giá dầu thô vừa qua tuần giảm thứ ba liên tiếp, với lượng dầu ở các kho dự trữ ở mức cao tại nhiều nước đã kéo thị trường vốn ngập trong dầu nhiều năm qua xuống dốc. Giá dầu giảm bởi các nhà đầu tư trên thị trường mất dần sự kiên nhẫn khi lượng dầu dự trữ rất lớn trong các kho sụt giảm chậm chạp, thậm chí ngay cả khi những nhà sản xuất hàng đầu thế giới đồng ý cắt giảm 1,8 triệu thùng tổng cộng mỗi ngày trong nửa đầu năm nay. Tại Mỹ, lượng dầu dự trữ cao hơn 10% so với cùng kỳ năm trước.
Tốc độ giảm của giá dầu đã chậm lại theo sau số liệu từ Viện Xăng Dầu Mỹ cho thấy dự trữ dầu thô đã giảm xuống 4,2 triệu thùng trong tuần trước, trong đó dự trữ dầu tại Cushing, Oklahoma, giảm khoảng 215.000 thùng. Chính phủ Mỹ sẽ công bố số liệu về lượng dầu dự trữ vào 21 giờ 30 (giờ Việt Nam) ngày 3/5.
Khảo sát của Reuters cũng cho thấy sản lượng dầu của OPEC đã giảm tháng thứ tư liên tiếp trong tháng 4/2017, xuống còn 31,97 triệu thùng/ngày do Nigeria và Libya bơm ít dầu hơn. Tuy nhiên cũng theo khảo sát của hãng Reuters, mức độ tuân thủ thỏa thuận cắt giảm sản lượng của OPEC đã giảm từ 92% trong tháng Ba xuống 90% trong tháng Tư. Công ty Dầu khí Quốc gia Libya ngày 1/5 thông báo sản lượng đã tăng lên trên 760.000 thùng/ngày, mức cao nhất kể từ tháng 12/2014 .và nước này dự kiến sẽ tiếp tục tăng cường sản xuất.
Các nước trong và ngoài OPEC, trong đó có Nga, lên kế hoạch nhóm họp vào ngày 25/5 và dự kiến sẽ kéo dài thời gian cắt giảm đến hết năm 2017.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tiếp tục giảm xuống mức thấp nhất 3 tuần khi nhu cầu đối với tài sản rủi ro hơn cổ phiếu đẩy thị trường này đi lên và đồng USD leo lên mức cao nhấ 6 tuần so với đồng yen.
Giá vàng giao ngay giảm 0,1% xuống 1.255,43 USD/ounce, trong phiên có lúc giá rơi xuống 1.251,37 USD/ounce là mức thấp nhất kể từ phiên 10/4 và tiến gần tới mức giá trung bình trong 200 phiên giao dịch gần đây; vàng giao kỳ hạn đóng phiên tăng 0,1%.
Các nhà đầu tư đã quay trở lại với tâm lý ưa các giao dịch rủi ro bất chấp tình hình bất ổn địa chính trị tại bán đảo Triều Tiên. Các thị trường chứng khoán thế giới tăng điểm khi mà các nhà đầu tư chờ đợi kết quả cuộc họp chính sách kết thúc vào ngày 3/5 của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed).
Hiện xuất hiện nhiều ý kiến cho rằng lãi suất sẽ được giữ nguyên khi Fed kết thúc cuộc họp kéo dài hai ngày này, với lý do là dù thị trường việc làm phục hồi khá ổn định, nền kinh tế vẫn tăng trưởng thất thường. Hầu hết các nhà phân tích nhận định Fed sẽ nâng lãi suất ít nhất là thêm hai lần nữa trong năm nay.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giao ngay giảm 0,4% xuống 16,78 USD/ounce, sau khi có lúc xuống mức thấp nhất kể từ phiên 27/1 là 16,75 USD/ounce, giá bạc giao ngay đã giảm 11 phiên trong 12 phiên giao dịch gần đây; Giá bạch kim giảm 0,03% xuống 924,7 USD/ounce sau khi có lúc giảm chạm mức thấp trong bốn tháng là 919 USD/ounce; Giá palaldium cũng giảm 0,2% xuống 813,25 USD/ounce.
Trên thị trường nông sản, đường thô quay đầu giảm giá khi các báo cáo cho thấy triển vọng sản lượng cải thiện và dư cung trong niên vụ 2017/18, trong khi cà phê robusta tăng khá mạnh.
Đường thô giao tháng 7 giá giảm 0,3 US cent hay 1,9% xuống 15,88 US cent/lb, trong khi đường trắng giao tháng 8 giá giảm 6,8 USD hay 1,5% xuống 452,60 USD/tấn.
Cà phê robusta giao tháng 7 giá tăng 49 USD hay 2,5% lên 1.995 USD/tấn, trong khi đó arabica giao tháng 7 giá tăng 04 US cent hay 0,3% lên 1,3625 USD/lb.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

47,66

-1,18

-2,4%

Dầu Brent

USD/thùng

50,46

-1,06

-2,1%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

34.850,00

-760,00

-2,13%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,19

-0,01

-0,25%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

153,71

+2,35

+1,55%

Dầu đốt

US cent/gallon

148,59

+1,79

+1,22%

Dầu khí

USD/tấn

448,75

+0,25

+0,06%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

48.050,00

-320,00

-0,66%

Vàng New York

USD/ounce

1.257,40

-0,40

-0,03%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.512,00

-3,00

-0,07%

Bạc New York

USD/ounce

16,88

-0,04

-0,26%

Bạc TOCOM

JPY/g

60,60

-0,40

-0,66%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

926,84

-0,28

-0,03%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

821,35

-2,66

-0,32%

Đồng New York

US cent/lb

261,70

-1,85

-0,70%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

5.802,00

+66,50

+1,16%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

1.929,50

+18,00

+0,94%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.655,00

+32,00

+1,22%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

19.960,00

+60,00

+0,30%

Ngô

US cent/bushel

372,25

0,00

0,00%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

452,50

-1,50

-0,33%

Lúa mạch

US cent/bushel

240,00

-1,50

-0,62%

Gạo thô

USD/cwt

9,59

-0,01

-0,10%

Đậu tương

US cent/bushel

969,25

+0,50

+0,05%

Khô đậu tương

USD/tấn

314,90

-0,10

-0,03%

Dầu đậu tương

US cent/lb

32,68

+0,06

+0,18%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

520,00

-0,80

-0,15%

Cacao Mỹ

USD/tấn

1.805,00

-7,00

-0,39%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

136,25

-0,40

-0,29%

Đường thô

US cent/lb

15,88

-0,30

-1,85%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

154,15

-1,65

-1,06%

Bông

US cent/lb

79,38

+0,01

+0,01%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

390,80

-1,40

-0,36%

Cao su TOCOM

JPY/kg

219,80

-1,90

-0,86%

Ethanol CME

USD/gallon

1,54

-0,03

-1,85%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg