Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng do đồng USD yếu đi so với hầu hết các đồng tiền chủ chốt khác. Kết thúc phiên giao dịch, dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 6/2018 tăng 0,68 USD lên 67,93 USD/thùng; dầu Brent giao tháng 7/2018 tăng 0,23 USD lên 73,36 USD/thùng.
Chỉ số USD, thước đo sức mạnh của đồng bạc xanh so với sáu đồng tiền chủ chốt khác, đã giảm 0,15% xuống 92,314 vào cuối phiên giao dịch. Đồng USD giảm do Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) quyết định duy trì lãi suất ở mức 1,5-1,75% sau khi kết thúc cuộc họp chính sách trong hai ngày 1- 2/5. Đồng USD yếu đi khiến dầu thô - mặt hàng được giao dịch bằng đồng tiền này - trở nên hấp dẫn hơn đối với những người nắm giữ các đồng tiền khác.
Nguồn cung dầu đá phiến Mỹ được cho là một trong những yếu tố có thể ảnh hưởng đến biến động của giá dầu. Mặc dù sản lượng dầu đá phiến của Mỹ đang tăng mạnh hơn dự đoán, với mức tăng ước gần 10% (1,4 triệu thùng/ngày) trong năm nay, song giới phân tích cho rằng chừng đó vẫn chưa làm chệch đà tăng của giá dầu trong năm nay, trong bối cảnh nhu cầu dầu đang tăng mạnh. Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ cho biết lượng dầu thô dự trữ của cường quốc này bất ngờ tăng 6,2 triệu thùng trong tuần này.
Ngày 12/5 tới Tổng thống Mỹ Donald Trump sẽ quyết định liệu có khôi phục các lệnh trừng phạt đối với Iran hay không. Nếu điều này xảy ra sẽ làm giảm xuất khẩu dầu mỏ của Iran. Iran đã tái xuất hiện như một nhà xuất khẩu dầu mỏ chủ chốt trong tháng 1/2016 khi một số lệnh trừng phạt quốc tế chống lại Tehran được dỡ bỏ để đổi lấy việc hạn chế chương trình hạt nhân của nước này. Bộ Dầu mỏ Iran cho biết xuất khẩu dầu của nước này đạt 2,6 triệu thùng/ngày trong tháng 4, một kỷ lục kể từ khi các lệnh trừng phạt được dỡ bỏ.
Chiến lược gia trưởng phụ trách hàng hóa cảu Saxo Bank, ông Ole Hansen, cho rằng "nếu ông Trump từ bỏ thỏa thuận này, ông ấy sẽ mạo hiểm với sự tăng vọt giá dầu trên toàn cầu". Ông bổ sung rằng việc tái áp đặt các lệnh trừng phạt của Mỹ có thể khiến nguồn cung toàn cầu mất từ 300.000 – 500.000 thùng dầu mỗi ngày.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tiếp tục tăng do USD yếu đi. Vàng giao ngay giá tăng 0,7% lên 1.312,14 USD/ounce, trong khi vàng giao tháng 6/2018 giảm 0,1% xuống 1.305,6 USD/ounce.
Quyết định về lãi suất của Fed hoàn toàn nằm trong dự đoán của giới đầu tư. Lần tăng lãi suất gần đây nhất là vào tháng Ba và hiện Fed dự định tiến hành hai đợt tăng nữa trong năm nay mặc dù ngày càng nhiều nhà hoạch định chính sách dự đoán có thể có ba đợt tăng. Hiện đại đa số các nhà đầu tư dự đoán Fed sẽ tăng lãi suất tại cuộc họp chính sách vào ngày 12-13/6 tới.
Trong kỳ họp vừa qua, Fed bày tỏ tin tưởng rằng tỷ lệ lạm pháp sẽ tiếp tục đà gia tăng gần đây để tiến tới gần ngưỡng mục tiêu 2% mà Fed đề ra, mở đường cho cơ quan ngày tăng lãi suất trong tháng Sáu tới. Fed dường như không quan ngại về việc tốc độ tăng trưởng kinh tế và việc làm gần đây chậm lại, thay vào đó nhấn mạnh rằng kinh tế Mỹ vẫn phát triển ở mức độ vừa phải, trong khi thị trường tiếp tục tạo ra đáng kể việc làm trong những tháng qua. Trong tuyên bố về quyết định lãi suất, Fed thể hiện sự tin tưởng vào triển vọng nền kinh tế Mỹ bằng cách khẳng định đầu tư cố định của giới doanh nghiệp tiếp tục gia tăng mạnh mẽ. Chủ tịch Fed Jerome Powell cho biết ngân hàng này sẽ từng bước nâng lãi suất để tránh khiến lạm phát tăng vọt.
Đối với những kim loại quý khác, giá bạc giao ngay phiên này tiến 2,4% lên 16,5 USD/ounce; giá palađi tăng 1,9% lên 966,9 USD/ounce; giá bạch kim phiên này tăng 0,7% lên 896,24 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại cơ bản, giá đồng và nickel rời khỏi mức thấp nhiều tuần do giá thép của Trung Quốc tăng và một khảo sát cho thấy sự tăng trưởng trong lĩnh vực sản xuất của Trung Quốc bất ngờ phục hồi trong tháng 4. Giá đồng giao sau 3 tháng trên sàn giao dịch kim loại London đóng cửa tăng 1,1% lên 6.820 USD/tấn sau khi xuống 6.710 USD/tấn hôm 1/5, mức thấp nhất kể từ ngày 4/4.
Chỉ số PMI của Trung Quốc do Caixin/Markit công bố tăng lên 51,1 từ mức thấp nhất 4 tháng tại 51,0 trong tháng 3 và vượt dự báo của các nhà kinh tế. Tuy nhiên một chỉ số phụ về đơn hàng xuất khẩu giảm lần đầu tiên kể từ tháng 11/2016.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica giao tháng 7 giảm 1,05 US cent tương đương 0,8% xuống 1,2375 USD/lb, sau khi có lúc chạm 1,2595 USD, mức cao nhất kể từ tháng 2. Robusta giao cùng kỳ hạn cũng giảm 0,4% xuống 1.807 USD/tấn.
Cao su giảm giá nhẹ trong phiên vừa qua do các nhà đầu tư chốt lời sau khi giá tăng 4% trong phiên trước. Hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 10 trên sàn giao dịch hàng hóa TOCOM đóng cửa giảm 0,9 JPY xuống 192 JPY (1,75 USD)/kg sau khi đạt mức cao một tháng rưỡi tại 193,2 JPY một ngày trước. Hợp đồng cao su trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải giao tháng 9 tăng 210 NDT đóng cửa tại 11.525 NDT (1.811 USD)/tấn. Hợp đồng cao su giao tháng 6 trên sàn giao dịch SICOM Singapore ở mức 140,6 US cent/kg, tăng 1,5 US cent.
Theo số liệu từ Hiệp hội Kinh doanh Cao su Nhật Bản, dự trữ cao su thô tại các cảng Nhật Bản đứng ở mức 16.357 tấn tính tới ngày 10/4, gấp gần 4 lần mức một năm trước đó.
Trong khi đó đường đảo chiều tăng giá trở lại sau khi giá giảm thấp ở phiên trước đó. Giá đường thô kỳ hạn tháng 7 tăng 0,06 US cent (0,5%) lên 11,75 US cent/lb; đường trắng kỳ hạn tháng 8 giảm 1,6 USD (0,5%) xuống 323,80 USD/tấn.
Chính phủ Ấn Độ đã chấp thuận đề xuất hỗ trợ các nhà máy đường bằng cách trả cho nông dân trồng mía một khoản trợ cấp với mỗi tấn mía họ bán cho nhà máy. Điều này khiến chênh lệch giữa đường trắng và đường thô xuống mức 63,31 USD, thấp nhất kể từ tháng 2 khi trợ cấp của Ấn Độ dự kiến làm tăng nguồn cung đường trắng toàn cầu. Các đại lý lưu ý rằng trợ cấp này không ngay lập tức khiến đường của Ấn Độ cạnh tranh trên thị trường toàn cầu, mặc dù nó sẽ hạn chế bất cứ sự phục hồi nào của giá đường trên thế giới. Trợ cấp cũng có thể ảnh hưởng trong dài hạn, khả năng dẫn tới sản xuất quá mức trong niên vụ tới.
Mọi người vẫn đang theo dõi xem Ấn Độ sẽ dành bao nhiều tiền cho chương trình trợ cấp này để có thể bù đắp chênh lệch giữa giá thế giới và giá nội địa, một đại lý cho rằng sẽ ở khoảng 90 USD/tấn.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

67,93

+0,68

+8,01%

Dầu Brent

USD/thùng

73,36

+0,23

-0,30%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

46.440,00

+160,00

+0,35%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,76

+0,00

+0,15%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

207,19

-0,79

-0,38%

Dầu đốt

US cent/gallon

211,57

-0,58

-0,27%

Dầu khí

USD/tấn

641,25

+3,00

+0,47%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

63.740,00

+140,00

+0,22%

Vàng New York

USD/ounce

1.308,40

+2,80

+0,21%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.598,00

-8,00

-0,17%

Bạc New York

USD/ounce

16,43

+0,06

+0,37%

Bạc TOCOM

JPY/g

58,40

+1,10

+1,92%

Bạch kim giao ngay

USD/ounce

897,95

+2,20

+0,25%

Palladium giao ngay

USD/ounce

965,39

+3,31

+0,34%

Đồng New York

US cent/lb

306,05

-0,80

-0,26%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.820,00

+75,00

+1,11%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.321,50

+61,50

+2,72%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.047,00

-5,00

-0,16%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

21.080,00

-125,00

-0,59%

Ngô

US cent/bushel

404,00

-1,00

-0,25%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

523,50

-3,25

-0,62%

Lúa mạch

US cent/bushel

236,50

+0,50

+0,21%

Gạo thô

USD/cwt

13,03

+0,14

+1,13%

Đậu tương

US cent/bushel

1.042,00

-1,00

-0,10%

Khô đậu tương

USD/tấn

397,50

-3,20

-0,80%

Dầu đậu tương

US cent/lb

30,65

+0,05

+0,16%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

528,50

-0,40

-0,08%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.813,00

-81,00

-2,80%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

123,75

-1,05

-0,84%

Đường thô

US cent/lb

11,75

+0,06

+0,51%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

160,25

+2,25

+1,42%

Bông

US cent/lb

84,74

+0,06

+0,07%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

575,10

+3,00

+0,52%

Cao su TOCOM

JPY/kg

191,90

-0,10

-0,05%

Ethanol CME

USD/gallon

1,45

+0,00

+0,28%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg