Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm giữa bối cảnh thị trường phải đương đầu với mối lo dư cung do các biện pháp trừng phạt gia tăng của Mỹ áp lên Iran có ảnh hưởng ít hơn dự kiến, trong khi dự trữ dầu thô của Mỹ tăng mạnh.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu thô ngọt nhẹ Mỹ (WTI) giảm 1,79 USD (2,8%) xuống 61,81 USD/thùng, hướng đến tuần giảm giá nhiều nhất kể từ tháng 2/2019. Giá dầu Brent Biển Bắc giảm 1,43 USD/thùng (2%) xuống 70,75 USD/thùng.
Các chuyên gia phân tích nhận định tâm lý của giới giao dịch trên thị trường không mấy khả quan khi sự thay đổi chính sách của Mỹ đối với Iran ảnh hưởng ít hơn so với lo ngại ban đầu.
Các biện pháp trừng phạt của Mỹ áp lên Iran đã gia tăng trong tuần này khi Chính quyền Tổng thống Trump kết thúc quy chế miễn trừ trừng phạt đối với tám quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có Trung Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ, khi mua dầu của Iran. Việc chấm dứt này chưa gây ra tình trạng thiếu hụt nguồn cung tức thì trên thị trường.
Trong khi đó, Thổ Nhĩ Kỳ cho biết nước này không thể dễ dàng thay thế dầu nhập khẩu từ Iran, đồng thời kêu gọi Washington xem xét lại hành động của mình.
Bên cạnh đó, sự lạc quan nào trên thị trường cũng bị "lung lay" trong bối cảnh nguồn dự trữ dầu thô dồi dào của Mỹ cho thấy thị trường được cung ứng đầy đủ. Công ty cung cấp thông tin năng lượng Genscape dự báo dự trữ dầu tại trung tâm Cushing, Oklahoma của Mỹ đã tăng 1,95 triệu thùng từ ngày 26-30/4. Ngoài ra, dự trữ dầu thô của Mỹ trong tuần trước đã tăng lên mức cao nhất kể từ tháng 9/2017, tăng khoảng 9,9 triệu thùng, lên 470,6 triệu thùng, do sản lượng đạt mức cao kỷ lục 12,3 triệu thùng/ngày.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm xuống mức thấp nhất trong vòng hơn bốn tháng qua, sau khi thông báo của Fed đã làm xóa tan hy vọng về một đợt cắt giảm lãi suất trong ngắn hạn.
Kết thúc phiên giao dịch, vàng giao ngay giảm 0,5% xuống còn 1.270,22 USD/ounce, sau khi có thời điểm chạm mức thấp nhất kể từ cuối tháng 12/2018 là 1.265,85 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng kỳ hạn giảm 1% và khép phiên ở mức 1.272 USD/ounce.
Sau cuộc họp chính sách vừa qua, Fed đã giữ nguyên lãi suất như dự đoán. Tuy nhiên, các thị trường vẫn bị bất ngờ khi Fed nhấn mạnh rằng ngân hàng này chưa thấy có lý do gì để xem xét việc cắt giảm lãi suất trong tương lai gần, khi hoạt động tuyển dụng và tăng trưởng kinh tế đều đang đi lên.
Lãi suất cao hơn sẽ làm tăng chi phí cơ hội của việc nắm giữ tài sản không sinh lãi suất như vàng và thường đẩy đồng USD tăng giá. Việc “đồng bạc xanh” tăng 0,1% so với các đồng tiền chủ chốt khác sau những bình luận của Fed cũng khiến cho vàng trở nên đắt đỏ hơn đối với những khách hàng nắm giữ các đồng tiền khác.
Ông Phillip Streible, chuyên gia cấp cao của công ty RJO Futures, cho biết thị trường đang đón đợi số liệu việc làm trong lĩnh vực phi nông nghiệp của Mỹ sẽ được công bố vào ngày 3/5, và nếu số việc làm vượt ngưỡng 200.000, điều này sẽ tạo thêm áp lực lên giá vàng.
Bên cạnh đó, giới đầu tư cũng đang theo dõi sát tiến trình đàm phán thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc. Các thông tin tích cực từ các cuộc đàm phán này thường sẽ thúc đẩy nhu cầu đối với các loại tài sản có tính rủi ro cao hơn và làm giảm sức hấp dẫn của kênh trú ẩn an toàn như vàng.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giảm 0,5% xuống còn 14,60 USD/ounce, trong khi giá bạch kim giảm 2,1% và được giao dịch ở mức 845,49 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá kẽm xuống thấp nhất kể từ giữa tháng 3/2019 do lo lắng về nhu cầu toàn cầu và dự trữ tăng, nhưng các kim loại khác có hỗ trợ từ hy vọng rằng một thỏa thuận thương mại Mỹ - Trung sẽ đạt được.
Giá kẽm trên sàn giao dịch kim loại London đóng cửa giảm 1,5% xuống 2.731 USD/tấn sau khi chạm 2,717 USD, thấp nhất kể từ ngày 11/3/2019.
Dự trữ kẽm trên sàn LME tăng lên 88.750 tấn, cao nhất kể từ ngày 15/2/2019 và tăng 70% trong 3 tuần qua. Công ty Hindustan Zinc của Ấn Độ, công ty khai thác kẽm lớn thứ hai thế giới dự kiến sản lượng của họ tăng trong năm 2019/20 sau khi giảm trong năm tài chính trước đó.
Giá các kim loại khác được hỗ trợ từ một báo cáo Mỹ và Trung Quốc đang gần tới thỏa thuận. Giá đồng LME giảm 1,1% xuống 6.167 USD/tấn, thấp nhất kể từ ngày 15/2/2019. Giá đóng cửa dưới mức trung bình 200 ngày tại 6.192 USD có thể dẫn tới xu hướng giảm tiếp.
Các nhà đầu tư lo lắng sau khi số liệu ngày 30/4 cho thấy tăng trưởng sản xuất tại Trung Quốc (quốc gia tiêu thụ kim loại hàng đầu thế giới) bất ngờ chậm lại trong tháng 4/2019, trong khi một khảo sát ngày 2/5 cho thấy hoạt động sản xuất khu vực eurozone thu hẹp tháng thứ 3 liên tiếp.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica kỳ hạn giao tháng 7/2019 tăng 0,45 UScent tương đương 0,5% lên 91,55 UScent/lb, robusta giao cùng kỳ hạn giảm 12 USD tương đương 0,9% xuống 1.364 USD/tấn vào cuối phiên, sau khi có lúc xuống chỉ 1.362 USD, thấp nhất kể từ tháng 2/2016. Thị trường cà phê tiếp tục bị ảnh hưởng bởi tình trạng dư cung.
Tại Châu Á, giá cà phê Việt Nam tuần này cũng giảm nhẹ khiến người trồng cà phê không mặn mà với việc bán ra, trong khi mức cộng của Indonesia với hợp đồng kỳ hạn tháng 7/2019 nới rộng. Cà phê nhân xô được bán ở Tây nguyên với 30.300 - 31.000 đồng/kg trong ngày 2/5/2019 so với 30.500 -31.400 đồng/kg một tuần trước, trong khi đó cà phê robusta xuất khẩu loại 2 với 5% hạt đen và vỡ ở mức trừ lùi 45 USD/tấn so với hợp đồng kỳ hạn tháng 7/2019 trên sàn ICE.
Trong khi đó, tại Indonesia mức cộng đối với robusta loại 4 khiếm khuyết 80 tăng lên 170 USD/tấn so với hợp đồng kỳ hạn tháng 7/2019 trong ngày 2/5/2019 một tuần trước mức cộng này là 130 USD/tấn. Số liệu của chính quyền địa phương của Indonesia cho thấy xuất khẩu từ Lampung giảm 49% trong tháng 4/2019 so với một năm trước xuống 4.326,3 tấn.
Đối với mặt hàng đường, giá đường thô kỳ hạn tháng 7/2019 chốt phiên tăng 0,02 US cent hay 0,2% lên 12,23 US cent/lb. Hợp đồng này đã giảm xuống 12,1 US cent trong ngày 1/5, thấp nhất kể từ ngày 4/1/2019. Trong năm nay giá đường vẫn giao dịch trong biên độ 12 – 13 cent.
Ngân hàng Commerzbank cho biết đồng real của Brazil suy yếu và thị trường vẫn được cung cấp dồi dào không cho phép giá đường tăng hiện nay. Đồng real yếu cải thiện hàng hóa định giá bằng USD và có thể khuyến khích nhà sản xuất bán ra.
Đường trắng kỳ hạn tháng 8/2019 trên sàn ICE giảm 2,1 USD hay 0,6% xuống 329,60 USD/tấn.
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

61,74

-0,07

-0,11%

Dầu Brent

USD/thùng

70,57

-0,18

-0,25%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

47.060,00

-1.390,00

-2,87%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,60

+0,01

+0,46%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

202,27

+0,44

+0,22%

Dầu đốt

US cent/gallon

207,06

-0,72

-0,35%

Dầu khí

USD/tấn

636,00

+3,00

+0,47%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

64.460,00

-1.660,00

-2,51%

Vàng New York

USD/ounce

1.272,10

+0,10

+0,01%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.612,00

+22,00

+0,48%

Bạc New York

USD/ounce

14,62

+0,00

+0,02%

Bạc TOCOM

JPY/g

54,20

+0,20

+0,37%

Bạch kim

USD/ounce

847,53

-3,77

-0,44%

Palađi

USD/ounce

1.353,71

-4,71

-0,35%

Đồng New York

US cent/lb

278,50

+0,55

+0,20%

Đồng LME

USD/tấn

6.167,00

-68,00

-1,09%

Nhôm LME

USD/tấn

1.816,00

+1,00

+0,06%

Kẽm LME

USD/tấn

2.731,00

-40,00

-1,44%

Thiếc LME

USD/tấn

19.275,00

-275,00

-1,41%

Ngô

US cent/bushel

370,75

+0,25

+0,07%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

446,75

+2,75

+0,62%

Lúa mạch

US cent/bushel

285,00

+3,00

+1,06%

Gạo thô

USD/cwt

10,68

-0,02

-0,23%

Đậu tương

US cent/bushel

843,50

+0,25

+0,03%

Khô đậu tương

USD/tấn

297,40

+0,50

+0,17%

Dầu đậu tương

US cent/lb

27,45

-0,05

-0,18%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

433,00

0,00

0,00%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.374,00

+59,00

+2,55%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

91,55

+0,45

+0,49%

Đường thô

US cent/lb

12,23

+0,02

+0,16%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

93,45

-2,35

-2,45%

Bông

US cent/lb

75,53

+0,08

+0,11%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

348,50

+10,50

+3,11%

Cao su TOCOM

JPY/kg

190,30

+1,00

+0,53%

Ethanol CME

USD/gallon

1,33

-0,01

-0,60%

Nguồn: Bloomberg, Reuters, CafeF