Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng lên mức cao nhất trong hai năm rưỡi qua, do tình hình bất ổn ở Iran và số liệu kinh tế lạc quan của Mỹ và Đức thúc đẩy hoạt động mua vào.
Kết thúc phiên giao dịch, giá dầu thô ngọt nhẹ Mỹ (WTI) trên sàn New York tăng 1,26 USD, hay 2,1%, lên 61,63 USD/thùng; dầu Brent Biển Bắc trên sàn London tăng 1,9% (khoảng 1,27 USD) và chốt phiên ở mức 67,84 USD/thùng. Trong phiên, giá dầu WTI đã có thời điểm chạm mức cao nhất kể từ tháng 6/2015, còn giá dầu Brent có lúc tăng lên mức cao nhất kể từ tháng 5/2015.
Tình trạng bất ổn ở Iran, một thành viên của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC), đã đẩy giá tưng lên. Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) ngày 3/1 thông báo làn sóng bất ổn diễn ra tại nước Cộng hòa Hồi giáo trong sáu ngày qua đã kết thúc. Bạo loạn và đụng độ trong các cuộc biểu tình ở Iran đã khiến ít nhất 21 người thiệt mạng.
Tuy nhiên, theo thông tin từ Iran, xuất khẩu và sản lượng dầu thô của nước này không bị ảnh hưởng bởi bất ổn. Nước nay vẫn bơm khoảng 3,8 triệu thùng dầu/ngày. Reuters dẫn lời một nguồn tin ngành dầu mỏ Iran cho biết “tôi thấy không có ảnh hưởng tới sản lượng và xuất khẩu”. “Mọi thứ đang diễn ra bình thường”, bổ sung rằng các cuộc biểu tình không lan vào lĩnh vực năng lượng và vẫn ở trên đường phố.
Bên cạnh đó, một loạt số liệu kinh tế lạc quan của Đức và Mỹ cũng góp phần tạo nên sự khởi sắc của giá dầu. Tỷ lệ thất nghiệp của Đức đã rơi xuống mức thấp nhất trong tháng 12 vừa qua, qua đó củng cố đà phục hồi của nền kinh tế lớn nhất châu Âu này. Kinh tế Mỹ cũng phát đi tín hiệu tích cực khi hoạt động sản xuất tại các nhà máy tăng mạnh hơn dự đoán trong tháng 12.
Viện dầu mỏ Mỹ (API) cho biết lượng dầu dự trữ của nước này đã giảm 5 triệu thùng trong tuần kết thúc vào ngày 29/12 và Bộ Năng lượng Mỹ dự kiến sẽ công bố kết quả chính thức trong ngày hôm nay. Sản lượng dầu của Mỹ đã tăng gần 16% kể từ giữa năm 2016, lên 9,75 triệu thùng vào thời điểm cuối năm ngoái.
Số giàn khoan dầu của Mỹ tăng khoảng 42% vào cuối năm 2017 so với năm trước đó, do các công ty năng lượng tăng cường chi tiêu trong bối cảnh giá dầu thô phục hồi. Theo công ty dịch vụ năng lượng Baker Hughes, các nhà khoan dầu giữ số giàn khoan ổn định tuần thứ hai liên tiếp là 747 giàn trong tuần tính tới 29/12. Số liệu đó cao hơn 222 giàn so với 525 giàn vào cuối năm 2016.
Trong năm 2017, giá dầu thô kỳ hạn của Mỹ đạt trung bình khoảng 51 USD/thùng, cao hơn nhiều mức trung bình 43,47 USD/thùng trong năm trước đó. Trong tương lai dự báo giá dầu trung bình khoảng 59 USD/thùng trong năm 2018 và 56 USD/thùng trong năm 2019.
Về thông tin liên quan, sản lượng dầu mỏ của Nga tiếp tục tăng trong năm 2017, với sản lượng trung bình hàng ngày ở mức 10,98 triệu thùng/ngày, cao nhất trong 30 năm, mặc dù tốc độ tăng trưởng đã chậm lại so với năm 2016 do nước này tham gia trong hiệp ước nguồn cung toàn cầu của OPEC. Nga cho biết, theo thỏa thuận với OPEC và một số nước xuất khẩu dầu chủ chốt khác, Nga đã cắt giảm sản lượng 300.000 thùng/ngày từ mức cao nhất hàng tháng trong 30 năm tại 11,247 triệu thùng/ngày đạt được hồi tháng 10/2016 và đã đạt được mục tiêu cắt giảm trong quý 2. Sản lượng dầu mỏ của Nga đã đạt 546,8 triệu tấn vào năm ngoái so với 547,5 triệu tấn trong năm 2016, nhiều hơn 1 ngày. Bộ trưởng Năng lượng Nga, Alexander Novak cho biết sản lượng dầu mỏ năm 2018 dự kiến ở mức 547 triệu tấn nếu cắt giảm kéo dài tới hết năm nay.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) công bố biên bản họp tháng 12/2017 cho thấy sẽ có thêm các đợt tăng lãi suất trong thời gian tới.
Giá vàng giao ngay giảm 0,7% xuống 1.309,35 USD/ounce, rời khỏi mức cao 1.321,33 USD/ounce được ghi nhận trước đó; vàng giao tháng 2/2018 nhích 0,2% lên 1.318,50 USD/ounce.
Đầu phiên này, giá vàng có lúc tăng chạm mức cao trong ba tháng rưỡi nhưng việc đồng USD mạnh lên, sau khi Mỹ công bố số liệu về hoạt động chế tạo và xây dựng, đã khuyến khích giới đầu tư và thương gia đẩy mạnh hoạt động bán ra, đẩy giá vàng vào tình cảnh sụt giảm lần đầu tiên trong gần ba tuần.
Theo Bob Haberkorn, chiến lược gia về thị trường tại RJO Futures ở Chicago, chính sách cắt giảm thuế của Mỹ được xem là có lợi cho nền kinh tế nước này. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cao hơn và chi tiêu tiêu dùng tăng sẽ thúc đẩy khả năng Fed có thêm nhiều đợt tăng lãi suất nữa, điều tạo sức ép lên giá vàng vốn rất nhảy cảm với việc lãi suất tăng.
Về những kim loại quý khác, giá palađi giảm 0,7% xuống 1.084 USD/ounce sau khi tăng chạm mức cao kỷ lục 1.096,50 USD/ounce đã ghi lập được trong phiên trước; giá bạc cũng giảm 0,7% xuống 17,06 USD/ounce, trong khi giá bạch kim tăng 0,6% lên 949 USD/ounce sau khi chạm mốc 960,70 USD/ounce, mức cao nhất từ phiên 19/9/2017.
Trong năm 2017, giá vàng được lợi từ việc đồng USD yếu đi. Với mức tăng gần 10% năm ngoái, kim loại quý này đã có một năm giao dịch tương đối ấn tượng, cho dù mức tăng giá của vàng chưa sánh được với thị trường chứng khoán Mỹ. Theo các nhà chiến lược thuộc ngân hàng Goldman Sachs, ba yếu tố có thể khiến giá vàng đi xuống trong vài tháng tới là đà tăng trưởng mạnh của các nền kinh tế phát triển, khả năng Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục nâng lãi suất và các nguy cơ địa chính trị hoặc suy thoái trầm trọng giảm bớt.
Tuy nhiên, giới đầu tư vẫn quan tâm đến kim loại quý này như là phương tiện tích trữ an toàn trước nguy cơ thị trường chứng khoán đảo chiều hay nợ quốc gia của Mỹ tăng vọt, khi Tổng thống Mỹ Donald Trump thực hiện chính sách cắt giảm thuế.
Giá vàng được dự báo sẽ tiếp tục nhận được sự hậu thuẫn từ việc đồng USD suy yếu. Tuy nhiên, nhà phân tích thị trường James Hughes thuộc AxiTrader cho rằng những nguy cơ địa chính trị giảm bớt và việc các ngân hàng trung ương áp dụng chính sách bình thường hóa hay ổn định hóa chính sách tiền tệ đồng nghĩa với nhu cầu đầu tư vào vàng như là kênh trú ẩn an toàn cũng giảm theo.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica giao tháng 3 giảm 1,6 US cent tương đương 1,23% xuống 1,286 USD/lb, kết thúc chuỗi 5 phiên liên tiếp tăng, có lúc lên mức 1,3135 USD/lb. Cà phê robusta giao cùng kỳ hạn giá tăng 2 USD tương đương 0,12% lên 1.735 USD/tấn.
Giá đường cũng biến động trái chiều giữa 2 sàn giao dịch. Đường thô giao tháng 3 trên sàn New York giá giảm 0,02 US cent tương đương 0,13% xuống 15,31 US cent/lb, trong phiên có lúc giá lên mức 15,35 US cent, cao nhất kể từ 28/11.
Đường trắng trái lại tăng giá 0,7 USD tương đương 0,18% xuống 399,30 USD/tấn.
Nhà phân tích hàng hóa Green Pool (Australia) vừa nâng dự báo dư thừa đường toàn cầu trong năm 2017/18 lên 10,43 triệu tấn, tăng so với 9,8 triệu tấn dự báo trước đó. Về niên vụ 2016/17, Green Pool hạ mức đánh giá về thiếu hụt đường thế giới xuống 1,11 triệu tấn, từ mức 1,78 triệu tấn dự báo trước đây.
Sản lượng đường toàn cầu niên vụ 2017/18 dự kiến sẽ tăng 8,1%, lên 193,36 triệu tấ, trong khi tiêu thụ dự báo sẽ chỉ tăng 1,3%, lên 181,94 triệu tấn.
Green Pool cho biết, điều này có thể khiến mức dư thừa đường toàn cầu lên tới 2 con số lần đầu tiên kể từ năm 2012/13 và dự kiến sẽ lớn hơn tổng thiếu hục hụt của cả 2 niên vụ 2015/16 và 2016/17 (đạt tổng cộng 8,29 triệu tấn).
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/-(%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

61,63

+1,26

+2,1%

Dầu Brent

USD/thùng

67,84

+1,27

+1,9%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

45.030,00

+700,00

+1,58%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,04

+0,03

+0,93%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

180,28

+0,54

+0,30%

Dầu đốt

US cent/gallon

207,94

-0,86

-0,41%

Dầu khí

USD/tấn

610,75

+3,00

+0,49%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

59.980,00

+710,00

+1,20%

Vàng New York

USD/ounce

1.307,80

-10,70

-0,81%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.721,00

+36,00

+0,77%

Bạc New York

USD/ounce

17,05

-0,22

-1,29%

Bạc TOCOM

JPY/g

61,90

+0,80

+1,31%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

947,30

-9,90

-1,03%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

1.084,40

-1,47

-0,14%

Đồng New York

US cent/lb

324,70

-1,05

-0,32%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

7.147,00

-58,00

-0,80%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.228,00

-36,50

-1,61%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.327,00

-22,00

-0,66%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

19.900,00

-140,00

-0,70%

Ngô

US cent/bushel

353,25

+0,25

+0,07%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

434,75

-1,25

-0,29%

Lúa mạch

US cent/bushel

244,75

+0,25

+0,10%

Gạo thô

USD/cwt

11,65

+0,01

+0,04%

Đậu tương

US cent/bushel

967,75

-1,00

-0,10%

Khô đậu tương

USD/tấn

318,30

-0,30

-0,09%

Dầu đậu tương

US cent/lb

33,87

-0,03

-0,09%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

495,50

+0,90

+0,18%

Cacao Mỹ

USD/tấn

1.907,00

-29,00

-1,50%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

128,60

-1,60

-1,23%

Đường thô

US cent/lb

15,31

-0,02

-0,13%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

139,35

+2,80

+2,05%

Bông

US cent/lb

78,11

+0,61

+0,79%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

452,60

+3,10

+0,69%

Cao su TOCOM

JPY/kg

206,90

+0,20

+0,10%

Ethanol CME

USD/gallon

1,35

-0,02

-1,39%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg