Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm trong bối cảnh các nhà đầu tư chờ đợi báo cáo về dự trữ dầu mỏ Mỹ.
Đóng cửa phiên giao dịch, giá dầu ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 11/2017 trên sàn New York giảm 0,16 USD xuống 50,42 USD/thùng, trong khi dầu Brent giao tháng 12/2017 trên sàn London giảm 0,12 USD xuống còn 56 USD/thùng tại London.
Cuối ngày 4/10 Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) sẽ công bố báo cáo về kho dự trữ dầu mỏ hàng tuần (trong tuần kết thúc vào 29/9). Theo kết quả khảo sát của hãng tin Bloomberg, lượng dự trữ dầu của nước này có thể giảm 500.000 thùng.
Theo các chuyên gia, những thông tin cho thấy nguồn cung dầu thô có dấu hiệu gia tăng đã gây sức ép đối với giá dầu. Ngày 2/10, Iraq cho biết xuất khẩu dầu từ các khu mỏ ở miền Nam của nước này trong tháng Chín tăng nhẹ. Trong khi đó, cuộc khảo sát của Reuters cho thấy sản lượng “vàng đen” của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) đang tăng.
Các nhà đầu tư trở nên thận trọng sau khi giá dầu tăng mạnh trong quý III/2017 với dầu Brent tăng khoảng 20%, ghi dấu mức tăng hàng quý lớn nhất kể từ năm 2004, trong bối cảnh có các dấu hiệu tái cân bằng giữa cung và cầu theo sau những nỗ lực cắt giảm sản lượng của các nước trong và ngoài Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC).
Trong quý 3/2017, giá dầu WTI tăng khoảng 12%, mức tăng theo quý mạnh nhất kể từ quý 2/2016, còn giá dầu Brent tăng khoảng 20%, mức tăng theo quý mạnh nhất kể từ năm 2004. Chuyên gia Jonathan Barratt, thuộc Ayers Alliance, tại Sydney, dự báo triển vọng của giá dầu trong quý 4/2017 không mấy sáng sủa, giữa bối cảnh nhiều nhà máy lọc dầu bước vào giai đoạn bảo trì.
Về thông tin liên quan, 3 quốc gia vùng Vịnh bao gồm Các Tiểu vương quốc Arập thống nhất (UAE), Qatar và Oman đã đồng loạt tăng giá xăng và dầu diesel ngay đầu tháng này.
UAE và Qatar đã tăng giá bán tất cả các loại mặt hàng xăng và dầu diesel so với tháng Chín, trong khi Oman tăng giá xăng loại một và diesel song vẫn duy trì mức giá bán xăng loại thường như tháng trước vì chính phủ nước này đã áp dụng mức trần giá bán ra.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng hồi phục từ mức thấp nhất 7 tuần trong bối cảnh đà tăng của đồng USD chững lại.
Giá vàng giao ngay tăng 0,1%, lên 1.272,04 USD/ounce, sau khi đồng USD đi ngang và lãi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ hạ nhẹ từ các mức cao trước đó. Tuy nhiên, giá vàng giao tháng 12/2017 vẫn mất 1,2 USD (0,1%), xuống 1.274,60 USD/ounce, sau khi chạm mức thấp nhất gần một tháng là 1.271 USD/ounce.
Trước đó, vàng chịu áp lực giảm sâu khi nền kinh tế Mỹ đón nhận thêm một vài tín hiệu lạc quan, dấy lên thêm đồn đoán về khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ nâng lãi suất thêm lần nữa trong năm nay, qua đó đẩy đồng USD mạnh lên và lãi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ tăng cao. Phiên này, có thời điểm vàng chạm mức thấp nhất kể từ ngày 15/8 là 1.267,76 USD/ounce, giảm hơn 6% từ mức cao nhất một năm xác lập hồi đầu tháng Chín là 1.357,54 USD/ounce.
Sự phục hồi của giá vàng trong phiên này còn được hỗ trợ bởi xu hướng mua vàng vật chất gia tăng từ các quỹ giao dịch.
Về những kim loại quý khác, giá bạc tăng 0,4%, lên 16,60 USD/ounce, song vẫn áp sát mức thấp nhất kể từ ngày 9/8. Giá bạch kim tăng 0,2%, lên 912,40 USD/ounce, sau khi chạm mức thấp nhất kể từ ngày 14/7 là 902,40 USD/ounce. Giá palladium cũng tiến 0,8%, lên 916,60 USD/ounce, sau khi rơi xuống mức thấp nhất hai tuần là 904 USD/ounce.
Trên thị trường nông sản, giá đường thô giao tháng 3 giảm 0,27 US cent tương đương 1,9% xuống 14,04 US cent/lb, trong khi đường trắng giao tháng 12 giảm 3,6 USD tương đương 1% xuống 365,50 USD/tấn.
Cà phê arabica giao tháng 12 cũng giảm 1,75 US cent tương đương 1,4% xuống 1,2545 USD/lb, trong khi robusta giao tháng 11 tăng 14 USD tương đương 0,7% lên 2.021 USD/tấn.
Những khu vực trồng cà phê và mía chính ở Brazil đã có mưa làm giảm lo ngại khô hạn ảnh hưởng tới năng suất, mặc dù thời tiết 10 ngày tới ở 1 số khu vực dự báo sẽ lại khô hạn.
Số liệu cho thấy xuất khẩu cà phe của Honduras trong niên vụ 2016-17 tăng 40% so với nưm trước đó, trong khi của Costa Rica giảm khoảng 10%.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

50,42

-1,6

-2,77%

Dầu Brent

USD/thùng

56,00

-0,12

-0,24%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

37.350,00

-350,00

-0,93%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,91

+0,02

+0,59%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

154,63

-1,92

-1,23%

Dầu đốt

US cent/gallon

174,53

-0,52

-0,30%

Dầu khí

USD/tấn

518,50

-3,50

-0,67%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

52.030,00

-390,00

-0,74%

Vàng New York

USD/ounce

1.277,60

+3,00

+0,24%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.606,00

0,00

0,00%

Bạc New York

USD/ounce

16,73

+0,08

+0,48%

Bạc TOCOM

JPY/g

60,60

+0,30

+0,50%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

916,75

+4,75

+0,52%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

923,34

+3,41

+0,37%

Đồng New York

US cent/lb

296,25

-0,10

-0,03%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.520,00

+27,00

+0,42%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.131,00

+30,00

+1,43%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.264,00

+28,00

+0,87%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

20.800,00

+125,00

+0,60%

Ngô

US cent/bushel

348,50

-1,00

-0,29%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

448,75

+0,75

+0,17%

Lúa mạch

US cent/bushel

249,00

-2,25

-0,90%

Gạo thô

USD/cwt

12,02

0,00

-0,04%

Đậu tương

US cent/bushel

956,00

+0,75

+0,08%

Khô đậu tương

USD/tấn

312,60

+1,10

+0,35%

Dầu đậu tương

US cent/lb

32,72

-0,03

-0,09%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

492,90

-0,20

-0,04%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.082,00

+45,00

+2,21%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

125,45

-1,75

-1,38%

Đường thô

US cent/lb

14,04

-0,27

-1,89%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

155,30

+2,30

+1,50%

Bông

US cent/lb

67,63

+0,11

+0,16%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

410,40

+3,60

+0,88%

Cao su TOCOM

JPY/kg

207,20

+1,40

+0,68%

Ethanol CME

USD/gallon

1,45

-0,01

-0,68%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg