Trên thị trường năng lượng, giá dầu tiếp tục tăng hơn 1% sau một số dấu hiệu cho thấy Saudi Arabia đang triển khai việc cắt giảm sản lượng dầu thô.
Kết thúc phiên giao dịch, tại thị trường New York, giá dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) giao kỳ hạn tăng 0,55 USD (hay 1,18%) lên 47,09 USD/thùng; tại London, giá dầu Brent Biển Bắc giao kỳ hạn tiến 1,04 USD (1,89%) lên 55,95 USD/thùng. Biên độ giao dịch của giá dầu trong phiên này khá rộng, với giá dầu Brent dao động trong biên độ 53,93-56,30 USD/thùng, còn dầu WTI dao động trong khoảng từ 45,35 USD/thùng đến 47,49 USD/thùng.
Yếu tố hỗ trợ đà tăng của giá dầu trong phiên này là những thông tin cho thấy các thành viên của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) tiến hành cắt giảm nguồn cung theo thoả thuận đã đạt được trong năm 2018. Theo một khảo sát của hãng tin Reuters. nguồn cung dầu của OPEC trong tháng 12/2018 đã giảm mạnh nhất trong gần hai năm, với sự khởi động cắt giảm sản lượng sớm của nhà xuất khẩu dầu hàng đầu của tổ chức này là Saudi Arabia. Trong khi đó, sản lượng dầu của Iran và Libya cũng sụt giảm ngoài chủ đích.
Tuy nhiên, đà tăng giá của dầu thô trong phiên này cũng bị hạn chế phần nào bởi những lo ngại về triển vọng ảm đạm của nền kinh tế toàn cầu. Đáng chú ý, "người khổng lồ" về công nghệ Apple Inc của Mỹ ngày 2/1 vừa hạ dự báo daonh thu quý 4/2018 do cho rằng doanh số bán tại Trung Quốc chậm lại, khiến thị trường chứng khoán Mỹ đỏ sàn và tác động tới giá dầu. Thêm vào đó, số liệu mới nhất về hoạt động chế tạo kém lạc quan của Mỹ cũng làm thị trường thêm lo ngại về "sức khoẻ" của nền kinh tế.
Ngoài ra, sự gia tăng nguồn cung dầu từ các nhà sản xuất hàng đầu thế giới, như Mỹ và Nga, cũng tạo áp lực lên thị trường dầu mỏ. Dự trữ dầu thô của Mỹ trong tuần trước (kết thúc ngày 28/12) đã giảm 4,5 triệu thùng xuống 443,7 triệu thùng, so với mức dự báo giảm 3,1 triệu thùng của giới phân tích.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng chạm mức cao nhất trong sáu tháng rưỡi qua, và tiến gần hơn đến mốc 1.300 USD/ounce, giữa bối ảnh lo ngại về khả năng các nền kinh tế lớn giảm tốc chi phối nhiều thị trường trên toàn cầu và thúc đẩy nhu cầu đối với kim loại quý được xem là kênh trú ẩn an toàn này.
Kết thúc phiên, giá vàng Mỹ kỳ hạn giao sau tăng 0,8% lên 1.294,80 USD/ounce; vàng giao ngay tăng 0,6% lên 1.291,76 USD/ounce, sau khi có thời điểm chạm 1.292,90 USD/ounce - mức cao nhất kể từ ngày 15/6/2018.
Chuyên gia phân tích Ole Hansen của Saxo Bank cho biết vàng đang hút khách ở hầu như tất cả các kênh mua bán, và với hoạt động đầu cơ gia tăng như vậy thì thị trường vàng sẽ tiến đến mức 1.300 USD/ounce sớm hơn dự đoán.
Cảnh báo về doanh thu từ Apple Inc đã tác động tới các thị trường tài chính vốn đang lo ngại về đà tăng trưởng kinh tế chậm lại trên toàn cầu. Vàng thường được xem là một kênh đầu tư an toàn trong thời kỳ bất ổn, và sự suy yếu của đồng USD đã góp phần thúc đẩy nhu cầu đối với kim loại quý này vì khiến kim loại quý này trở nên rẻ hơn đối với người mua nắm giữ các đồng tiền khác.
Về những kim loại quý khác, giá bạc tăng 1,2% lên 15,70 USD/ounce; bạch kim tăng 0,4% và được giao dịch ở mức 797,20 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá quặng sắt và thép tại Trung Quốc tăng trở lại sau khi giảm vào ngày giao dịch đầu tiên của năm do Chính phủ Trung Quốc đã phê duyệt các dự án đường sắt liên thành phố ở các tỉnh phía đông của Giang Tô và An Huy, với tổng giá trị đầu tư là 33,7 tỷ USD. Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia cho biết tám dự án đường sắt liên thành phố sẽ có tổng chiều dài 1.063 km, riêng ở Giang Tô là 980 km.
Giá thanh cốt thép kỳ hạn tại Thượng Hải chốt phiên tăng gần 2% lên 3,455 CNY(502,48 USD)/tấn. Giá thép cuộn cán nóng tăng 1,3% lên 3.350 CNY. Giá quặng sắt trên sàn Đại Liên tăng 1,1% lên 497 CNY/tấn. Giá than luyện cốc tăng 1,4% lên 1.175,5 CNY. Giá than cốc tăng hơn 2,8% lên 1.937 CNY, sau khi đạt mức cao nhất trong ngày là 1.944 CNY.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê tăng trong khi đường giảm. Cà phê arabica giao tháng 3/2019 trên sàn New York tăng 2,65 US cent tương đương 2,7% lên 1,0215 USD/lb, robusta giao cùng kỳ hạn trên sàn London tăng 26 USD tương đương 1,7% lên 1.556 USD/tấn.
Tại Châu Á, nhu cầu tiêu thụ yếu tại Việt Nam và Indonesia do mùa nghỉ lễ trong khi nguồn cung dồi dào, ép giá giảm. Người trồng cà phê ở Tây Nguyên chào bán cà phê với giá 33.200 đồng đến 33.700 đồng (1,43- 1,45 USD)/kg, giảm so với mức 33.800 -34.000 đồng/kg một tuần trước đó.
Mức trừ lùi giá cà phê loại 2 (5% đen vỡ) (so với tại London) giảm còn 45- 50 USD/tấn đối với hợp đồng tháng 3/2019, so với mức 30- 50 USD/tấn trong tuần trước. Xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong năm 2018 tăng 20,1% lên 1,88 triệu tấn, tương đương 31,33 triệu bao 60 kg.
Tại Indonesia, hoạt động giao dịch trầm lắng, mức cộng giá cà phê loại 4, 80 hạt vỡ hợp đồng tháng 3/2019 là 20- 30 USD, không đổi so với tuần trước. Xuất khẩu cà phê robusta từ tỉnh Lampung ở Sumatra trong tháng 12/2018 đã giảm 40% so với một năm trước đó còn 8.312.4 tấn.
Giá đường chạm mức thấp nhất 3 tháng do lo ngại nguồn dự trữ đường toàn cầu dồi dào, Ấn Độ đã sẵn sàng xuất khẩu một lượng lớn sản lượng dư thừa sang thị trường thế giới trong những tháng tới.
Giá đường trắng kỳ hạn tháng 3/2019 giảm còn 4,6 USD, tương đương 1,40%, xuống mức 324,20 USD/tấn sau khi chạm mức thấp nhất kể từ đầu tháng 10/2018 ở mức 323,60 USD/tấn.
Giá đường thô kỳ hạn tháng 3/2019 giảm 0,24 UScent, tương đương 2%, xuống mức 11,69 Uscent/lb, mức thấp nhất 3 tháng.
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

47,09

+0,55

+1,18%

Dầu Brent

USD/thùng

55,95

+1,40

+1,89%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

36.340,00

+340,00

+0,94%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,91

-0,04

-1,19%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

133,06

-1,89

-1,40%

Dầu đốt

US cent/gallon

172,52

-1,68

-0,96%

Dầu khí

USD/tấn

517,00

+4,50

+0,88%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

52.990,00

+470,00

+0,89%

Vàng New York

USD/ounce

1.299,90

+5,10

+0,39%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.483,00

-54,00

-1,19%

Bạc New York

USD/ounce

15,91

+0,11

+0,72%

Bạc TOCOM

JPY/g

54,60

+0,40

+0,74%

Bạch kim

USD/ounce

800,41

+2,66

+0,33%

Palađi

USD/ounce

1.268,33

-2,27

-0,18%

Đồng New York

US cent/lb

257,60

+0,80

+0,31%

Đồng LME

USD/tấn

5.736,00

-106,00

-1,81%

Nhôm LME

USD/tấn

1.835,00

+38,00

+2,11%

Kẽm LME

USD/tấn

2.379,00

-31,00

-1,29%

Thiếc LME

USD/tấn

19.570,00

+90,00

+0,46%

Ngô

US cent/bushel

380,25

+0,50

+0,13%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

514,50

+0,75

+0,15%

Lúa mạch

US cent/bushel

278,00

-0,50

-0,18%

Gạo thô

USD/cwt

10,43

-0,01

-0,14%

Đậu tương

US cent/bushel

912,50

-0,25

-0,03%

Khô đậu tương

USD/tấn

316,50

-0,20

-0,06%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,42

-0,01

-0,04%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

488,50

-0,60

-0,12%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.400,00

+6,00

+0,25%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

102,15

+2,65

+2,66%

Đường thô

US cent/lb

11,69

-0,24

-2,01%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

122,30

-0,40

-0,33%

Bông

US cent/lb

70,83

-0,01

-0,01%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

329,50

-3,70

-1,11%

Cao su TOCOM

JPY/kg

175,10

+4,90

+2,88%

Ethanol CME

USD/gallon

1,28

+0,01

+0,39%

Nguồn: VITIC/Bloomberg, Reuters, CafeF