Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng bởi thị trường lại dấy lên nỗi lo sản lượng khai thác dầu của Iran giảm sẽ thắt chặt nguồn cung trên các thị trường một khi các biện pháp trừng phạt của Mỹ có hiệu lực.
Kết thúc phiên, giá dầu Brent Biển Bắc tăng 37 US cent lên 78,01 USD/thùng; dầu thô ngọt nhẹ (WTI) tăng 30 US cent lên 70,1 USD/thùng.
Tuy nhiên, đà tăng bị hạn chế bởi việc sản lượng khai thác dầu từ Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) và Mỹ gia tăng.
Giá dầu Brent và dầu WTI trong hai tuần vừa qua đã tăng mạnh, trong đó dầu Brent tăng hơn 10% giá trị, do dự đoán rằng nguồn cung dầu toàn cầu sẽ bị thắt chặt trong những tháng cuối năm nay.
Các biện pháp trừng phạt của Mỹ hiện đã tác động đến xuất khẩu dầu của Iran. Nhà phân tích Stephen Brennock thuộc hãng môi giới London PVM Oil Assocations nhận địn, xuất khẩu từ nhà sản xuất dầu lớn thứ ba của OPEC này đang giảm nhanh hơn dự kiến và dự đoán diễn biến sẽ còn xấu hơn khi Mỹ công bố đợt trừng phạt thứ hai.
Chuyên gia Stephen Innes, người đứng đầu mảng giao dịch tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương thuộc OANDA, cho biết giá dầu Brent được hỗ trợ bởi quan điểm rằng các biện pháp trừng phạt của Mỹ đối với xuất khẩu dầu của Iran cuối cùng sẽ dẫn tới sự thắt chặt trên thị trường. Nhà phân tích Edward Bell tại ngân hàng Emirates NBD tại Dubai đồng quan điểm khi cho rằng sản lượng khai thác dầu của Iran đang cho thấy các dấu hiệu sụt giảm với mức giảm 150.000 thùng dầu/ngày trong tháng trước giữa bối cảnh các nước nhập khẩu dầu của Iran sẽ phải cách ly với nguồn cung này.
Sản lượng khai thác dầu của đã OPEC tăng 220.000 thùng dầu/ngày trong tháng 8/2018 lên mức cao nhất trong năm nay (32,79 triệu thùng/ngày), theo kết quả một khảo sát của Reuters. Mỹ lần đầu tiên trong ba tuần cũng đã bổ sung số lượng giàn khoan dầu. Hiện số lượng giàn khoan dầu tại nước này tăng 2 giàn khoan lên 862 giàn khoan. Số lượng giàn khoan dầu lớn đã giúp nâng sản lượng khai thác dầu của Mỹ hơn 30% từ giữa năm 2016, lên mức 11 triệu thùng/ngày.
Nhiều nhà phân tích cảnh báo cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và các nền kinh tế lớn khác trong đó có Trung Quốc và Liên minh châu Âu (EU) sẽ làm giảm nhu cầu đối với dầu.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm nhẹ do USD tăng lên mức cao nhất trong vòng 1 tuần bởi những lo ngại về xung đột thương mại giữa Mỹ và các quốc gia khác. Vàng giao ngay giảm 0,03% xuống 1.200,4 USD/ounce, trong khi vàng giao tháng 12/2018 đóng phiên ở mức 1.207 USD/ounce.
Đồng USD đã gây sức ép đối với giá vàng. Trong năm nay, mối quan hệ giữa vàng và đồng bạc xanh đã “phủ mây đen” lên nhu cầu mua vào vàng của giới đầu tư.
Ngày 1/9/2018, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã đe dọa gạt Canada khỏi Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) mới, sau khi các cuộc đàm phán nhằm sửa đổi hiệp định này kết thúc ngày 31/8/2018 vừa qua mà không đạt được thỏa thuận nào. Trong khi đó, Bloomberg News cho biết ông Trump đang chuẩn bị áp thuế thêm đối với lượng hàng hóa trị giá 200 tỷ USD của Trung Quốc.
Chiến lược gia Nitesh Shah, thuộc ETF Securities, nhận định mối lo về chiến tranh thương mại tiếp tục thúc đẩy đồng USD lên giá và vàng sẽ chịu thêm sức ép. Giá kim loại quý này đã giảm khoảng 8% trong năm nay, trước tiến trình nâng lãi suất tại Mỹ, tranh chấp thương mại và cuộc khủng hoảng tại Thổ Nhĩ Kỳ.
Thống kê cho thấy lượng vàng do quỹ giao dịch vàng lớn nhất thế giới SPDR Gold nắm giữ đã giảm hơn 13% kể từ mức đỉnh hồi cuối tháng Tư.
Nhà phân tích Carlo Alberto De Casa thuộc ActivTrades cho rằng, nếu giá vàng hồi phục lên mức 1.210 USD/ounce thì sẽ có khả năng lên 1.230 USD/ounce, nhưng nếu giá vàng giảm xuống dưới 1.200 USD/ounce sẽ có khả năng còn xuống mức thử nghiệm 1.180 USD/ounce và sau đó xuống mức hỗ trợ 1.160 USD/ounce.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giao ngay giảm xuống 14,46 USD/ounce trong khi giá bạch kim tăng 0,1% lên 783,50 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá hầu hết giảm. Giá nickel giảm xuống mức thấp nhất hơn 7 tháng, do lo ngại về nền kinh tế Trung Quốc, chiến tranh thương mại leo thang và giá thép suy giảm.
Giá nickel kỳ hạn giao sau trên sàn London cũng giảm xuống 12.695 USD/tấn, thấp nhất kể từ ngày 23/1/2018.Giá đồng kỳ hạn giao sau trên sàn London giảm 0,1% xuống 5.967 USD/tấn, trong phiên có lúc chạm 5.950,5 USD/tấn, thấp nhất kể từ ngày 23/8/2018. Trong tháng 8/2018, giá đồng giảm 5,5%, tháng giảm mạnh nhất trong 2 năm và giảm tháng thứ 3 liên tiếp. Trong khi đó, giá chì kỳ hạn giao sau trên sàn London tăng 2,1% lên 2.121 USD/tấn, do dự trữ giảm, trong phiên có lúc đạt 2.131,5 USD/tấn, mức cao nhất kể từ 9/8/2018.
Tăng trưởng hoạt động sản xuất của Trung Quốc trong tháng 8/2018 chạm mức thấp nhất trong hơn 1 năm, với các đơn hàng xuất khẩu giảm tháng thứ 5 liên tiếp và các nhà tuyển dụng cắt giảm lao động, theo Chỉ số PMI Sản xuất của Caixin/Markit. Ngoài ra, giá nickel chịu áp lực giảm do kim loại này được sử dụng chủ yếu trong sản xuất thép không gỉ và giá thép tại Thượng Hải giảm.
Giá thép cây kết thúc phiên vừa qua giảm mạnh sau công bố kết quả hoạt động tuần của các nhà máy thép tồi tệ nhất kể từ cuối tháng 3/2018. Giá thép cây kỳ hạn giao sau trên sàn Thượng Hải giảm 0,2% xuống 4.087 CNY (598,56 USD)/tấn. Trong tuần qua, giá thép cây đã giảm gần 6%, tuần giảm mạnh nhất trong gần 4 tháng. Giá thép giảm bởi hoạt động giao dịch trầm lắng, khối lượng thép cây giao ngay trên sàn Thượng Hải trong tuần trước giảm xuống 18.944 tấn, thấp nhất kể từ đầu tháng 3/2018. Trong khi đó, tồn trữ thép cây tại các nhà máy thép trong tuần vừa qua tăng 240.000 tấn so với tuần trước đó, lên 4,36 triệu tấn, cao nhất kể từ cuối tháng 7/2018, công ty Mysteel cho biết.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê rơi xuống mức thấp nhất trong gần 2,5 năm do hoạt động bán ồ ạt của các quỹ, nguồn cung dồi dào. Giá cà phê robusta kỳ hạn tháng 11/2018 giảm 12 USD tương đương 0,8% xuống 1.489 USD/tấn, trong phiên có lúc chạm 1.484 USD/tấn, thấp nhất kể từ tháng 4/2016. Thị trường cà phê arabica suy yếu xuống thấp nhất 12 năm cũng gây áp lực đối với giá cà phê robusta.
Giá đường trắng tăng trong phiên giao dịch thưa thớt trong ngày nghỉ lễ lao động ở Mỹ, sản lượng tại EU giảm bởi thời tiết xấu. Giá đường trắng kỳ hạn tháng 10/2018 kết thúc phiên tăng 1,9 USD tương đương 0,6% lên 327,8 USD/tấn.
Giá cao su tại Tokyo kết thúc phiên chạm mức thấp nhất gần 2 tuần, chịu áp lực bởi giá cao su kỳ hạn tại Thượng Hải suy giảm. Giá cao su kỳ hạn tháng 2/2019 trên sàn Tokyo giảm 4,6 JPY xuống 169,1 JPY (1,52 USD)/kg, trong đầu phiên giao dịch chạm 168,6 JPY/kg, mức thấp nhất kể từ ngày 21/8/2018. Giá cao su kỳ hạn tháng 1/2019 trên sàn Thượng Hải giảm 465 CNY tương đương 3,7% xuống 11.965 CNY (1.752 USD)/tấn, trong phiên có lúc chạm mức thấp nhất gần 2 tuần, do dự trữ cao su tại Thượng Hải tăng 1/3 so với cùng kỳ năm ngoái lên 551.634 tấn.

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

70,1

+0,30

 

Dầu Brent

USD/thùng

78,01

+0,37

 

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

51.210,00

+550,00

+1,09%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,87

-0,05

-1,71%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

202,82

+3,12

+1,56%

Dầu đốt

US cent/gallon

226,90

+2,59

+1,15%

Dầu khí

USD/tấn

698,00

-0,25

-0,04%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

68.930,00

+590,00

+0,86%

Vàng New York

USD/ounce

1.207,30

+0,60

+0,05%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.281,00

+10,00

+0,23%

Bạc New York

USD/ounce

14,54

-0,02

-0,15%

Bạc TOCOM

JPY/g

51,60

0,00

0,00%

Bạch kim

USD/ounce

790,91

+2,11

+0,27%

Palađi

USD/ounce

983,04

+0,39

+0,04%

Đồng New York

US cent/lb

266,20

-0,90

-0,34%

Đồng LME

USD/tấn

5.967,00

-8,00

-0,13%

Nhôm LME

USD/tấn

2.097,00

-28,00

-1,32%

Kẽm LME

USD/tấn

2.463,00

+6,00

+0,24%

Thiếc LME

USD/tấn

18.840,00

-150,00

-0,79%

Ngô

US cent/bushel

366,75

+1,75

+0,48%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

538,50

-7,00

-1,28%

Lúa mạch

US cent/bushel

252,50

0,00

0,00%

Gạo thô

USD/cwt

10,81

-0,02

-0,18%

Đậu tương

US cent/bushel

844,25

+0,75

+0,09%

Khô đậu tương

USD/tấn

308,00

+0,80

+0,26%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,99

+0,22

+0,76%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

496,80

+1,20

+0,24%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.336,00

+61,00

+2,68%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

101,80

-0,85

-0,83%

Đường thô

US cent/lb

10,60

+0,03

+0,28%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

154,45

-0,45

-0,29%

Bông

US cent/lb

83,00

+0,78

+0,95%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

411,80

+9,20

+2,29%

Cao su TOCOM

JPY/kg

168,90

-0,20

-0,12%

Ethanol CME

USD/gallon

1,33

+0,02

+1,61%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg