Trên thị trường năng lượng, giá dầu đảo chiều tăng trở lại với tiên đoán lượng dầu dự trữ của Mỹ giảm và những dấu hiệu cho thấy các nước xuất khẩu dầu hàng đầu thế giới sẽ tuân thủ thỏa thuận cắt giảm sản lượng đã nhất trí trước đó. Đồng USD suy yếu cũng là một yếu tố giúp giá dầu mỏ hồi phục.
Kết thúc phiên giao dịch, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) trên sàn New York tăng 93 US cent (1,8%) chốt ở 53,26 USD/thùng, dầu Brent Biển Bắc trên sàn London tăng 99 US cent (1,8%) lên 56,46 USD/thùng.
Viện Dầu mỏ Mỹ thông báo lượng dầu dự trữ của nước này đã giảm 7,4 triệu thùng trong tuần kết thúc vào ngày 30/12/2016.
Các công ty dầu có thể đã giảm lượng dầu dự trữ trong tuần vừa qua do những nguyên nhân liên quan đến thuế, từ đó có thể khiến cho giá dầu tăng mạnh sau khi số liệu chính thức về lượng dầu dự trữ của Mỹ được công bố vào ngày 5/1.
Bên cạnh đó, Kuwait đã làm gia tăng kỳ vọng rằng các thành viên Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) sẽ tuân thủ thỏa thuận cắt giảm sản lượng sau khi công ty dầu quốc doanh của nước này ngày 4/1 cho biết sẽ cắt giảm sản lượng trong quý 1/2017.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng cũng tăng lên mức cao nhất trong vòng 4 tuần khi đồng USD rời mức “đỉnh” của 14 năm qua và nhu cầu tiêu thụ vàng từ Trung Quốc và Ấn Độ gia tăng.
Giá vàng giao ngay tăng 0,2% lên 1.161,2 USD/ounce – mức cao nhất kể từ ngày 9/12/2016; vàng kỳ hạn tăng 0,3% lên 1.165,3 USD/ounce.
Chỉ số đồng USD – thước đo sức mạnh của đồng bạc xanh so với các đồng tiền lớn khác – phiên này đã rời mức cao nhất ghi nhận từ cuối năm 2012, khiến vàng được định giá bằng đồng USD trở nên rẻ hơn đối với người mua nắm giữ các đồng tiền khác, qua đó đẩy nhu cầu về vàng đi lên.
Số liệu mới nhất cho thấy lượng vàng do Quỹ giao dịch vàng lớn nhất thế giới SPDR Gold Trust nắm giữ phiên 3/1 giảm 1% xuống mức 813,87 tấn. Lượng kim loại quý mà SPDR Gold Trust nắm giữ đã giảm khoảng 14% kể từ thời điểm diễn ra cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào đầu tháng 11/2016.
Với những kim loại quý khác, giá bạc tăng 0,31% lên 16,32 USD/ounce và palađi tăng 4,7% lên 742,6 USD/ounce – mức cao nhất kể từ phiên 9/12. Tuy nhiên, bạch kim giảm 0,09% giá trị xuống còn 936,25 USD/ounce.
Trên thị trường nông sản, giá đường thô cao nhất trong vòng 1,5 tháng, cacao và cà phê cũng tăng.
Lo ngại thiếu mía nguyên liệu ở Ấn Độ - nước sản xuất đường lớn thứ 2 thế giới – hỗ trợ giá mặt hàng này, trong khi nội tệ tăng giá ở những nước sản xuất chính là Brazil và Việt Nam hỗ trợ giá cà phê.
Arabica giao ngay giá tăng 4,4 US cent hay 3,2% lên 1,418 USD/lb, cao nhất kể từ 22/12; robusta giao tháng 3 giá tăng 41 USD hay 1,9% lên 2.165 USD/tấn, cao nhất kể từ 17/11.

Giá hàng hóa thế giới

 

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

53,26

+0,93

+1,8%

Dầu Brent

USD/thùng

56,46

+0,99

+1,88%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

40.240,00

-200,00

-0,49%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,24

-0,03

-0,80%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

163,41

-1,18

-0,72%

Dầu đốt

US cent/gallon

168,19

-1,11

-0,66%

Dầu khí

USD/tấn

496,25

+1,00

+0,20%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

49.410,00

-170,00

-0,34%

Vàng New York

USD/ounce

1.171,00

+5,70

+0,49%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.370,00

-19,00

-0,43%

Bạc New York

USD/ounce

16,58

+0,02

+0,14%

Bạc TOCOM

JPY/g

61,90

-0,40

-0,64%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

948,18

+4,84

+0,51%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

745,27

+6,99

+0,95%

Đồng New York

US cent/lb

249.25

+0.35

+0.14%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

5,500.00

-35.50

-0.64%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

1,687.00

-6.00

-0.35%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2,521.00

-55.00

-2.14%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

20,975.00

-150.00

-0.71%

Ngô

US cent/bushel

255,20

-0,45

-0,18%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

5.644,00

+144,00

+2,62%

Lúa mạch

US cent/bushel

1.685,00

-2,00

-0,12%

Gạo thô

USD/cwt

2.621,00

+100,00

+3,97%

Đậu tương

US cent/bushel

21.145,00

+170,00

+0,81%

Khô đậu tương

USD/tấn

255,20

-0,45

-0,18%

Dầu đậu tương

US cent/lb

5.644,00

+144,00

+2,62%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

1.685,00

-2,00

-0,12%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.237,00

+71,00

+3,28%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

141,80

+4,40

+3,20%

Đường thô

US cent/lb

20,89

+0,38

+1,85%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

193,95

-0,50

-0,26%

Bông

US cent/lb

74,08

+2,30

+3,20%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

327,90

-1,20

-0,36%

Cao su TOCOM

JPY/kg

271,40

-2,00

-0,73%

Ethanol CME

USD/gallon

1,51

-0,02

-1,50%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg