Trên thị trường năng lượng, giá dầu thô biến động trái chiều. Giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao tháng Sáu trên sàn New York đứng ở mức 43,78 USD/thùng, tăng 13 cent so với hôm 3/5. Trong khi đó, tại London, giá dầu Brent Biển Bắc giao tháng Bảy giảm 35 cent xuống còn 44,62 USD/thùng.
Giá dầu ngọt nhẹ Mỹ đã được hỗ trợ sau thông tin về một vụ cháy rừng lớn tại Alberta (Canada) - yếu tố được cho là đe dọa đến sản lượng dầu cát của khu vực này.
Hỏa hoạn tại phía bắc Alberta, Canada, buộc nhiều công ty dầu cát phải đóng cửa hoặc hạn chế sản xuất. Thời tiết khô hạn tại Venezuela có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến thủy điện, buộc nước này phải sử dụng nhiều dầu hơn để sản xuất điện. Hãng tin Fars tại Iran cũng cho biết, có nhiều mối nguy cho thấy quân đội nước này sẽ phong tỏa một số tàu chở dầu từ Eo Hormuz - 1/3 lượng dầu toàn cầu vận chuyển bằng đường biển phải đi qua eo này.
Số liệu mới từ Mỹ cho thấy sản lượng dầu tại Mỹ trong tuần trước đã giảm thêm 100.000 thùng/ngày xuống mức thấp nhất kể từ tháng 9/2014, tuy nhiên các kho dự trữ dầu thô và xăng của Mỹ tăng khá mạnh - một tín hiệu xấu đối với thị trường.
Theo Bộ Năng lượng Mỹ, sản lượng dầu của nước này giảm còn 8,83 triệu thùng/ngày trong tuần kết thúc vào ngày 29/4, so với mức 8,94 triệu thùng/ngày của tuần trước đó, và giảm 800.000 thùng/ngày so với mức “đỉnh” được ghi nhận hồi tháng 6/2015.
Giá dầu đã tăng hơn 60% so với mức đáy hồi đầu năm nay khi giới đầu tư đồn đoán đà lao dốc của giá dầu trong gần 2 năm qua sẽ kéo giảm sản lượng và thị trường cân bằng hơn. Đầu phiên giao dịch nhiều nhà đầu tư cho rằng xu hướng này đã giúp giá dầu tăng với một loạt mối nguy về nguồn cung dầu trên thế giới.
Nhiều nhà phân tích cho rằng giá dầu đã tăng quá cao và quá nhanh, đồng thời cảnh báo đà suy giảm có thể sớm diễn ra vì sản lượng và lượng dầu lưu kho hiện vẫn ở mức cao.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tiếp tục giảm khi USD hồi phục sau số liệu kinh tế Mỹ mạnh lên.
Giá vàng giao ngay giảm 1% xuống 1.272,66 USD/ounce, nối dài đà giảm so với mức đỉnh 15 tháng ở 1.300 USD/ounce hôm thứ Hai 2/5.Giá vàng giao tháng 6/2016 giảm 1,3% xuống 1.274,4 USD/ounce.
Báo cáo của ADP cho thấy, trong tháng 4/2016 lĩnh vực tư nhân tại Mỹ tạo thêm được 156.000 việc làm mới, thấp hơn so với dự đoán của các nhà kinh tế học và ghi nhận mức tăng yếu nhất trong 3 năm qua.
Chủ tịch Fed Atlanta Dennis Lockhart hôm thứ Ba 3/5 cho biết, Mỹ có thể nâng lãi suất 2 lần trong năm nay trong khi Chủ tịch Fed San Francisco John Williams cho hay ông ủng hộ việc nâng lãi suất vào tháng 6 miễn là có dấu hiệu cho thấy kinh tế Mỹ tiếp tục tăng trưởng, thị trường lao động được cải thiện và lạm phát tăng.
Mọi sự chú ý đang hướng vào báo cáo việc làm phi nông nghiệp, công bố vào thứ Sáu 6/5. Chuyên gia phân tích Georgette Boele thuộc ABN Amro dự báo, nếu báo cáo việc làm của Mỹ (được công bố vào thứ Sáu tới) yếu kém thì giá vàng có khả năng được đẩy lên trên 1.300 USD/ounce.
Kể từ đầu năm đến nay, giá vàng đã tăng hơn 20% trước những đồn đoán rằng Fed sẽ không vội trong việc nâng lãi suất trong năm nay. Lãi suất được tăng cao sẽ khiến vàng trở nên kém hấp dẫn hơn trong mắt giới đầu tư.
Trong số các kim loại quý khác, giá bạc giao ngay giảm 0,9% xuống 17,26 USD/ounce, giá bạch kim giảm 1,3% xuống 1.047,74 USD/ounce và giá palladium giảm 1,6% xuống 595,80 USD/ounce.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê đồng loạt tăng. Giá robusta trên sàn London tăng tăng 3-6 USD/tấn, ngoại trừ kỳ hạn giao 5/2016, trong khi giá cà phê arabic tại New York tăng 0,4-0,5 cent/lb.
Commerzbank cho biết, “tình hình nguồn cung trên thị trường cà phê thế giới ngày càng thắt chặt chủ yếu do nguồn cung Robusta”.
Nhiều tổ chức đã hạ dự báo sản lượng cà phê của Brazil do thời tiết khô hạn, theo Commerzbank, trong khi “hạn hán tại Việt Nam đang đe dọa làm giảm sản lượng cà phê của nước này”.
Việt Nam đang gánh chịu đợt hạn hán tồi tệ nhất trong 30 năm qua và những cơn mưa gần đây không đủ để “thỏa cơn khát”, Commerzbank cho biết, và “hiện nay, sản lượng cà phê của Việt Nam được dự báo giảm 10-30% so với niên vụ trước”.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

43,78

+0,13

+0,3%

Dầu Brent

USD/thùng

44,62

-0,35

-0,8%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

29.070,00

-520,00

-1,76%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,14

0,00

-0,09%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

150,90

+2,24

+1,51%

Dầu đốt

US cent/gallon

135,02

+2,20

+1,66%

Dầu khí

USD/tấn

401,75

+6,00

+1,52%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

150,90

+2,24

+1,51%

Vàng New York

USD/ounce

1.282,00

+7,60

+0,60%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.388,00

-7,00

-0,16%

Bạc New York

USD/ounce

17,44

+0,13

+0,77%

Bạc TOCOM

JPY/g

59,90

-0,70

-1,16%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

1.056,89

+0,65

+0,06%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

602,51

+3,21

+0,54%

Đồng New York

US cent/lb

218,90

+0,25

+0,11%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

4.867,00

-53,00

-1,08%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

1.633,50

+0,50

+0,03%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

1.888,00

-10,00

-0,53%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

17.400,00

+130,00

+0,75%

Ngô

US cent/bushel

377,00

+0,25

+0,07%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

470,25

-1,00

-0,21%

Lúa mạch

US cent/bushel

192,75

-2,25

-1,15%

Gạo thô

USD/cwt

11,32

-0,12

-1,09%

Đậu tương

US cent/bushel

1.035,25

+1,25

+0,12%

Khô đậu tương

USD/tấn

344,80

-0,20

-0,06%

Dầu đậu tương

US cent/lb

32,65

+0,18

+0,55%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

504,50

+3,00

+0,60%

Cacao Mỹ

USD/tấn

3.186,00

-19,00

-0,59%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

119,70

+0,45

+0,38%

Đường thô

US cent/lb

16,65

+0,40

+2,46%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

138,30

+3,80

+2,83%

Bông

US cent/lb

62,88

+0,10

+0,16%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

298,90

+1,40

+0,47%

Cao su TOCOM

JPY/kg

187,30

-0,40

-0,21%

Ethanol CME

USD/gallon

1,50

-0,01

-0,80%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg