Trên thị trường năng lượng, giá dầu tiếp tục tăng sau thông tin Saudi Arabia cắt giảm sản lượng khai thác dầu mỏ theo thỏa thuận mà các thành viên của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) đã đạt được trước đó.
Đóng cửa phiên giao dịch, giá dầu ngọt nhẹ (WTI) kỳ hạn giao tháng 2/2017 trên sàn New York tăng 50 US cent lên 53,76 USD/thùng, dầu Brent giao tháng 3/2017 trên sàn London tăng 43 US cent lên 56,89 USD/thùng.
Giá dầu đã tăng khoảng 23% kể từ giữa tháng 11/2016 đến nay.
Theo một nguồn thông tin thân cận ở vùng Vịnh, Saudi Arabia đang tiến hành cắt giảm sản lượng khai thác ít nhất 486.000 thùng mỗi ngày xuống 10,06 triệu thùng/ngày trong tháng Một.
Điều này cho thấy nhà sản xuất dầu thô lớn nhất thế giới đang thực hiện thỏa thuận đã đạt được giữa các thành viên OPEC hồi tháng 11/2016.
Iraq đã cắt giảm sản lượng 200.000 thùng dầu/ngày theo thỏa thuận cắt giảm sản lượng của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC). Phát ngôn viên của Bộ Dầu mỏ Iraq Assem Jihad cho biết hiện sản lượng dầu của Iraq đã giảm từ mức trên 4,8 triệu thùng/ngày xuống khoảng 4,6 triệu thùng/ngày.
Nguồn thu từ dầu mỏ đóng góp tới 90% ngân sách của Iraq. Tuy nhiên việc giá dầu lao dốc và cuộc chiến đầy tốn kém chống lại tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) tự xưng đã để lại một “lỗ hổng lớn” trong ngân sách nước này.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tiếp tục tăng lên mức cao nhất trong một tháng trong bối cảnh đồng USD rời xa dần mức đỉnh trong 14 năm được ghi nhận hồi đầu tuần.
Giá vàng giao ngay phiên vừa qua có thời điểm tăng 1,85% lên 1.184,90 USD/ounce, mức cao nhất kể từ ngày ngày 5/12 và đang trên đà hướng đến mức tăng 2,5%, sẽ là mức tăng theo tuần lớn nhất kể từ tháng Sáu; vàng giao tháng 2/2017 tăng 1, 5% và đóng cửa ở mức 1.181,30 USD/ounce.
Các chuyên gia nhận định sự yếu đi của đồng USD đã hỗ trợ đà tăng của giá vàng. Đồng bạc xanh giảm giá so với giỏ sáu đồng tiền lớn sau khi số liệu cho thấy khu vực tư nhân của Mỹ chỉ tạo được 153.000 việc làm mới trong tháng 12/2016, thấp hơn dự báo trước đó của các nhà phân tích.
Với những kim loại quý khác, giá bạch kim tăng 2,8% lên 966,20 USD/ounce, sau khi vọt lên 975,80 USD/ounce, mức cao nhất trong 8 tuần. Giá kim loại này đang trên đà hướng đến mức tăng 7,9% trong tuần này. Giá bạc giao ngay tăng 0,85% lên 16,56 USD/ounce.
Trên thị trường nông sản, giá đường giảm khỏi mức cao nhất trong vòng 7 tuần do hoạt động bán tháo vào cuối phiên giao dịch. Cà phê arabica và cacao giữ giá do USD giảm mạnh so với các đồng tiền chủ chốt khác.

Cà phê robusta giảm sau khi giá tăng lên mức cao nhất 7 tuần ở phiên trước đó bởi giá tăng gần đây khích lệ người trồng ở Việt Nam bán ra. Robusta giao tháng 3 giá giảm 11 USD hay 0,5% xuống 2.154 USD/tấn. Arabica giao tháng 3 trên sàn New York giá tăng 1,95 US cent hay 1,4% lên 1,4375 USD/lb.

 

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

53,76

+0,50

+0,19%

Dầu Brent

USD/thùng

56,89

+0,43

+0,28%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

40.240,00

-200,00

-0,49%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,24

-0,03

-0,80%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

163,41

-1,18

-0,72%

Dầu đốt

US cent/gallon

168,19

-1,11

-0,66%

Dầu khí

USD/tấn

496,25

+1,00

+0,20%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

49.410,00

-170,00

-0,34%

Vàng New York

USD/ounce

1.178,20

-3,10

-0,26%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.367,00

-11,00

-0,25%

Bạc New York

USD/ounce

16,63

-0,01

-0,04%

Bạc TOCOM

JPY/g

61,40

-0,60

-0,97%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

966,89

-1,10

-0,11%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

737,14

-2,26

-0,31%

Đồng New York

US cent/lb

254,15

+0,40

+0,16%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

5.580,00

-64,00

-1,13%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

1.702,50

+17,50

+1,04%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.618,00

-3,00

-0,11%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

21.075,00

-70,00

-0,33%

Ngô

US cent/bushel

361,25

0,00

0,00%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

427,00

+0,75

+0,18%

Lúa mạch

US cent/bushel

238,00

+1,50

+0,63%

Gạo thô

USD/cwt

9,75

+0,01

+0,05%

Đậu tương

US cent/bushel

1.012,50

0,00

0,00%

Khô đậu tương

USD/tấn

317,70

-0,50

-0,16%

Dầu đậu tương

US cent/lb

35,30

+0,08

+0,23%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

503,20

-0,40

-0,08%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.262,00

+25,00

+1,12%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

143,75

+1,95

+1,38%

Đường thô

US cent/lb

20,78

-0,11

-0,53%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

190,30

-3,65

-1,88%

Bông

US cent/lb

73,89

+0,11

+0,15%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

328,60

+0,70

+0,21%

Cao su TOCOM

JPY/kg

272,40

-0,70

-0,26%

Ethanol CME

USD/gallon

1,55

+0,04

+2,85%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg