Trên thị trường năng lượng, giá dầu thô biến động nhẹ giữa bối cảnh thị trường kỳ vọng Mỹ và Trung Quốc có thể sẽ đạt được một thỏa thuận thương mại ngay trong tháng này. Kết thúc phiên giao dịch, dầu ngọt nhẹ trên sàn New York giảm 0,03 USD xuống 56,56 USD/thùng; trong khi đó dầu Brent trên sàn London tăng 0,19 USD lên 65,86 USD/thùng.
Ngoài việc mỏ dầu El Sharara lớn nhất Libya (với khả năng khai thác 315.000 thùng/ngày) đã nối lại hoạt động sau khi đóng cửa từ tháng 12/2018, quan ngại về nguy cơ giảm tốc của kinh tế Trung Quốc - nước tiêu thụ dầu hàng đầu thế giới - cũng đang gây sức ép lên thị trường năng lượng.
Bất chấp nỗ lực cắt giảm sản lượng dầu của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) và các đồng minh, trong đó có Nga, việc mỏ dầu lớn nhất Libya đã nối lại hoạt động, trong lúc nhu cầu tiêu thụ dầu của Trung Quốc yếu đi cũng đang tác động tới thị trường năng lượng.
Chính phủ Trung Quốc đặt mục tiêu kinh tế tăng trưởng 6-6,5% trong năm 2019, thấp hơn mức dự báo 6,6% đưa ra hồi năm ngoái, nên nhu cầu tiêu thụ nhiên liệu chắc sẽ chững lại.
Trong khi đó, dự trữ dầu thô của Mỹ trong tuần kết thúc ngày 1/3 tăng 7,3 triệu thùng lên 451,5 triệu thùng, vượt xa mức dự đoán tăng 1,2 triệu thùng.
Giá khí tự nhiên trên thị trường Mỹ tăng lên mức cao nhất trong 5 tuần do nhu cầu cao để sưởi cho hộ gia đình và doanh nghiệp nhằm đối phó với đợt lạnh buốt trên cả nước trong tuần này.
Các thương nhân lưu ý thị trường tập trung nhiều hơn vào trời lạnh trong tuần này và dự báo thời lạnh hơn so với bình thường vào giữa tháng 3/2019 hơn là dự kiến nhiệt độ ở mức trung bình trong phần lớn tuần tới.
Khí tự nhiên kỳ hạn tháng 4/2019 trên sàn giao dịch bán buôn New York tăng 2,7 US cent hay 0,9%, đóng cửa tại 2,884 USD/mmBtu, đóng cửa cao nhất kể từ ngày 29/1/2019.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm xuống mức thấp nhất trong hơn 5 tuần khi đồng USD đi lên trước số liệu kinh tế Mỹ tốt hơn mong đợi và thị trường chứng khoán toàn cầu khả quan.
Cuối phiên giao dịch, giá vàng giao ngay giảm 0,1% xuống 1.285,57 USD/ounce, sau khi có thời điểm rơi xuống 1.280,70 USD/ounce, mức thấp nhất kể từ ngày 25/1; vàng giao sau giảm 0,2% xuống khép phiên ở mức 1.284,7 USD/ounce.
Phiên này, chỉ số đồng USD ở gần mức đỉnh của hai tuần so với giỏ sáu đồng tiền khác trên thị trường giữa bối cảnh số liệu tích cực về thị trường nhà đất và lĩnh vực dịch vụ giúp làm dịu bớt nỗi quan ngại về khả năng kinh tế Mỹ tăng trưởng chậm lại. Chiến lược gia Phil Streible, thuộc RJO Futures tại Chicago, nhận định triển vọng nền kinh tế lớn nhất thế giới vẫn tiếp tục tăng trưởng đã thúc đẩy các nhà đầu tư tìm đến các tài sản sinh lợi cao hơn.
Bên cạnh đó, Walter Pehowich, nhà quản lý thuộc Dillon Gage Metals, cho rằng việc Mỹ và Trung Quốc tiến gần tới một thỏa thuận giải quyết tranh chấp thương mại giữa hai bên và sự tiến triển trong đàm phán về Brexit cũng là những yếu tố khiến nhà đầu tư “quay lưng” lại với vàng và chuyển hướng sang cổ phiếu chứng khoán.
Về những kim loại quý khác, giá bạc tăng 0,3% lên 15,12 USD/ounce sau khi có lúc trong phiên rơi xuống 15,01 USD/ounce, mức thấp nhất kể từ ngày 27/12. Còn giá bạch kim tăng 0,2% lên 836,35 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá đồng tăng trong phiên qua sau khi Trung Quốc, nước tiêu thụ đồng hàng đầu thế giới công bố các biện pháp kích thích kinh tế gồm giảm thuế cho ngành sản xuất, điều đó thúc đẩy triển vọng nhu cầu.
Trong khi đó, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Mike Pompeo cho biết Mỹ và Trung Quốc có thể đạt được thỏa thuận để kết thúc tranh chấp thương mại mà đã đẩy giá các kim loại giảm mạnh kể từ mùa hè năm ngoái.
Giá đồng trên sàn giao dịch kim loại London (LME) kết thúc phiên tăng 1,1% lên 6.478 USD/tấn, đảo lại chiều giảm giá trong ngày 4/3 và tiếp cận mức cao nhất 7 tháng tại 6.540 USD/tấn.
Các biện pháp kích thích kinh tế của Trung Quốc gồm những lời hứa về chi tiêu cho cơ sở hạ tầng, phần lớn được dự kiến khi tăng trưởng kinh tế đang hạ nhiệt. Bắc Kinh cho biết mục tiêu tăng trưởng của họ từ 6 tới 6,5% trong năm nay.
Hỗ trợ thị trường đồng là những dấu hiệu nguồn cung thắt chặt trên sàn LME, theo đó dự trữ ở mức 118.600 tấn, thấp nhất kể từ tháng 5/2008 đồng thời giá đồng giao ngay cao hơn giá đồng giao sau 3 tháng 70 USD/tấn, mức cao nhất trong 4 năm.
Tuy nhiên, dự trữ tại kho của sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải tăng hơn gấp đôi lên 227.049 tấn trong mùa hoạt động sản xuất trầm lắng (mùa đông và nghỉ Tết Nguyên đán).
Giá thép tại Trung Quốc giảm trong phiên qua, với cả thép cây và quặng sắt đều giảm sau khi tăng trong 4 phiên liên tiếp, do tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm lại tại quốc gia tiêu thụ kim loại màu lớn nhất thế giới này tiếp tục làm lu mờ triển vọng nhu cầu.
Trung Quốc cắt giảm mục tiêu tăng trưởng GDP trong năm nay xuống 6,0 tới 6,5% từ khoảng 6,5% trong năm ngoái, nhưng đưa thêm nhiều kích thích gồm cắt giảm thuế và phí an ninh xã hội, tăng đầu tư cơ sở hạ tầng và cho vay đối với các doanh nghiệp nhỏ.
Quặng sắt trên sàn giao dịch hàng hóa Đại Liên kết thúc phiên giảm 1,3% xuống 623 CNY (92,96 USD)/tấn, sau khi giảm khoảng 3% trong đầu phiên giao dịch.
Giá quặng sắt Đại Liên đã đạt mức cao kỷ lục 657,5 CNY/tấn trong tháng 2/2019 sau khi công ty khai thác mỏ hàng đầu thế giới Vale SA tuyên bố bất khả kháng về hợp đồng quặng sắt khi một trong những đập nước thải ở Brazil bị vỡ vào cuối tháng 1/2019.
Hợp đồng thép cây xây dựng trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải giảm 0,7% xuống 3.793 CNY/tấn. Thép cuộn cán nóng giảm 0,8% xuống 3.777 CNY/tấn.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 5/2019 tăng 2,3 US cent hay 2,4% lên 99,65 US cent /lb, sau khi giảm 2,8% trong phiên này. Tuần trước giá cà phê đã giảm xuống dưới mức thấp nhất trong 5 tháng tại 96,35 US cent, bởi nguồn cung toàn cầu dồi dào.
Cà phê robusta kỳ hạn tháng 5/2019 tăng 6 USD hay 0,4% lên 1.527 USD/tấn.
Hiệp hội Cà phê và Cacao Việt Nam cho biết mực nước thấp và nguy cơ hạn hán tại các khu vực trồng cà phê chính sẽ làm tổn hại cho sản lượng cà phê robusta trong năm nay. Sản lượng cà phê năm nay và năm tới sẽ giảm đáng kể. Đường thô kỳ hạn tháng 5/2019 đóng cửa tăng 0,08 US cent hay 0,7% lên 12,44 US cent/lb, lần đầu tiên đóng cửa tăng trong 4 phiên. Các đại lý cho biết có sự hỗ trợ vững chắc quanh mức kháng cự 12,34 US cent, với thị trường giảm xuống còn 12,35 US cent trong ngày 4/3 trước khi phục hồi.
Đường trắng kỳ hạn tháng 5/2019 tăng 1,6 USD hay 0,5% lên 342,90 USD/tấn.
Giá cao su TOCOM kỳ hạn giảm trở lại từ mức cao nhất trong hơn một năm đã đạt được trong phiên trước do các hàng hóa khác như dầu giảm. Hợp đồng cao su trên sàn giao dịch hàng hóa Tokyo (TOCOM) kỳ hạn tháng 8/2019 đóng cửa phiên 05/3 giảm 0,6 JPY xuống 205,6 JPY/kg. Hợp đồng cao su giao tháng 5/2019 trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải ở mức 12.480 CNY/tấn giảm 1,7%. Giá cao su TSR 20 giao tháng 9/2019 đóng cửa phiên giảm 1,3% xuống 172 JPY/kg.

Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

56,56

-0,03

Dầu Brent

USD/thùng

65,86

+0,19

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

44.660,00

+10,00

+0,02%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,89

+0,01

+0,24%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

175,40

-1,34

-0,76%

Dầu đốt

US cent/gallon

200,69

-0,95

-0,47%

Dầu khí

USD/tấn

613,75

-1,75

-0,28%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

60.760,00

-40,00

-0,07%

Vàng New York

USD/ounce

1.288,10

-3,40

-0,26%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.614,00

-7,00

-0,15%

Bạc New York

USD/ounce

15,15

+0,05

+0,30%

Bạc TOCOM

JPY/g

54,40

+0,10

+0,18%

Bạch kim

USD/ounce

836,75

-0,86

-0,10%

Palađi

USD/ounce

1.512,53

-6,63

-0,44%

Đồng New York

US cent/lb

293,50

+0,15

+0,05%

Đồng LME

USD/tấn

6.478,00

+69,00

+1,08%

Nhôm LME

USD/tấn

1.874,00

-1,00

-0,05%

Kẽm LME

USD/tấn

2.780,00

+29,00

+1,05%

Thiếc LME

USD/tấn

21.565,00

+115,00

+0,54%

Ngô

US cent/bushel

376,00

+0,25

+0,07%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

463,25

+0,50

+0,11%

Lúa mạch

US cent/bushel

266,00

+1,00

+0,38%

Gạo thô

USD/cwt

10,73

+0,01

+0,09%

Đậu tương

US cent/bushel

914,25

+0,50

+0,05%

Khô đậu tương

USD/tấn

310,10

+0,10

+0,03%

Dầu đậu tương

US cent/lb

30,06

+0,04

+0,13%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

458,50

+0,70

+0,15%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.157,00

+1,00

+0,05%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

99,65

+2,30

+2,36%

Đường thô

US cent/lb

12,44

+0,08

+0,65%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

115,85

-0,95

-0,81%

Bông

US cent/lb

74,61

+1,48

+2,02%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

360,10

-7,30

-1,99%

Cao su TOCOM

JPY/kg

204,80

-0,80

-0,39%

Ethanol CME

USD/gallon

1,35

0,00

-0,15%

Nguồn: VITIC/Bloomberg, Reuters, CafeF