Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng do chứng khoán Mỹ đi lên và dự kiến Saudi Arabia tăng giá bán dầu.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu Brent tăng 31 US cent lên 68,33 USD/thùng, dầu thô ngọt nhẹ (WTI) tăng 17 US cent lên 63,54 USD/thùng.
Phil Flynn, chuyên gia phân tích tại Price Futures Group tại Chicago, cho biết Saudi Arabia - “ông lớn” trong Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) - thông báo nước này sẽ tăng giá bán chính thức dầu thô giao tháng 5/2018.
Giới phân tích tại Commerzbank nhận định giá dầu cũng đang hưởng lợi từ tâm thái khả quan chung của các thị trường, khi đã xuất hiện các dấu hiệu cho thấy tranh chấp và căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc có vẻ lắng dịu.
Công ty nghiên cứu thị trường Genscape cho biết dự trữ tại Cushing, Oklahoma, điểm phân phối dầu WTI kỳ hạn tăng 2,5 triệu thùng trong tuần tới ngày 3/4. Trong khi đó, Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) mới đây cho biết lượng dầu thô dự trữ của Mỹ trong tuần vừa qua bất ngờ giảm 4,6 triệu thùng xuống 425,3 triệu thùng dầu, trái ngược với dự đoán của các nhà phân tích rằng con số này sẽ tăng 2 triệu thùng.
Tuy nhiên, theo các nhà phân tích, đà đi lên của giá dầu phiên này phần nào bị giới hạn bởi việc đồng bạc xanh mạnh lên. Chỉ số đồng USD, thước đo “sức khỏe” của đồng tiền này so với giỏ sáu đồng tiền chủ chốt khác, tiến 0,36% lên 90,486 (điểm). Dầu được định giá bằng đồng USD nên một khi đồng tiền này mạnh lên sẽ khiến hoạt động mua dầu bằng các đồng tiền khác trở nên đắt đỏ hơn.
Gene McGillian, giám đốc nghiên cứu thị trường tại công ty Tradition Energy cho biết sản lượng của Mỹ đã đạt mức cao mới trong tuần trước nên mức độ cắt giảm sản lượng đối trọng từ OPEC sẽ rất quan trọng. Saudi Arabia đã cho biết họ có thể gia hạn thỏa thuận sản lượng của OPEC trong năm 2019.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm sau khi Mỹ và Trung Quốc sẵn sàng đàm phán để giải quyết tranh chấp thương mại, làm giảm nhu cầu đối với kim loại quý này như nơi trú ẩn an toàn.
Vàng giao ngay giảm 0,5% xuống 1.325,81 USD/ounce, trong phiên có lúc giá xuống 1.322,4 USD/ounce, thấp nhất một tuần; vàng kỳ hạn tháng 7 giảm 11,7 USD, tương đương 0,9% xuống 1.328,50 USD/ounce.
Các nhà đầu tư chuyển sang mua cổ phiếu, đẩy thị trường chứng khoán đi lên, trong khi đồng USD mạnh lên khiến vàng đắt hơn cho người dùng các đồng tiền khác. Vàng giảm cũng tạo ra một bức tranh kỹ thuật tiêu cực khuyến khích xu hướng bán tiếp.
Căng thẳng thương mại Mỹ - Trung có phần lắng dịu. Cả hai nước đều khẳng định sẵn sàng đàm phán về một giải pháp để giải quyết bất đồng thương mại. Cố vấn kinh tế của Tổng thống Donald Trump đã gọi những tuyên bố của hai nước chỉ là những đề xuất mở và mức thuế của Mỹ có thể không bao giờ có hiệu lực, trong khi đại sứ Trung Quốc tại Washington cho biết ưu tiên của Bắc Kinh là giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán.
Ngoài ra, các nhà đầu tư cũng đang chờ đợi báo cáo về thị trường việc làm ở Mỹ trong ngày thứ Sáu để có những manh mối mới về giá cả.. Sự tiến triển tích cực của thị trường lao động sẽ khuyến khích Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục đẩy nhanh tiến độ nâng lãi suất - điều sẽ tác động đến giá vàng vì kim loại quý này tỏ ra khá nhạy cảm với các đợt thay đổi lãi suất của Mỹ.
Đối với những kim loại quý khác, giá bạc giao ngay tăng 0,4% lên 16,35 USD/ounce sau khi rớt xuống 16,17 USD/ounce, mức thấp nhất trong hai tuần vào đầu phiên; giá bạch kim giảm 0,4% xuống 908,50 USD/ounce sau khi rớt xuống 901,50 USD/ounce, mức thấp nhất kể từ tháng 12/2017.
Về thông tin liên quan, hãng tin Reuters ngày 4/4 đưa tin, ngân hàng Sberbank CIB, một chi nhánh của ngân hàng lớn nhất nước Nga Sberbank, có kế hoạch tăng gấp đôi lượng vàng bán sang thị trường Ấn Độ đồng thời tăng lượng bán sang Trung Quốc.
Nga hiện là quốc gia mua vào nhiều vàng nhất trên thế giới và cũng là nhà sản xuất vàng lớn thứ 3 trên thế giới. Trong những năm gần đây Moskva đã tăng mạnh hoạt động mua vào, bao gồm cả vàng khai thác trong nước. Chính phủ Nga muốn nâng mức dự trữ vàng trong bối cảnh tình hình địa chính trị thế giới nhiều biến động. Xét về sở hữu vàng thì Nga đứng thứ 6 trên thế giới sau Mỹ, Đức, Italy, Pháp và Trung Quốc.
Trên thị trường kim loại cơ bản, giá đồng tăng hơn 1,4% khi lo ngại về cuộc chiến thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ dịu đi, thúc đẩy nhu cầu trở lại đối với các tài sản có độ rủi ro cao như chứng khoán và kim loại công nghiệp. Giá đồng tại sàn giao dịch kim loại London đóng cửa tăng 1,4% lên 6.816 USD/tấn. Kim loại này đang phục hồi từ mức thấp 3 tháng ở 6.532 USD/tấn hôm 23/3.
Nhà phân tích Casper Burgering tại ABN Amro cho biết "yếu tố tích cực ngày hôm nay là khả năng đàm phán ngăn chặn một cuộc chiến thương mại và một cuộc leo thang có thể xảy ra". "Đồng là kim loại theo chu kỳ và có xu hướng phản ứng rất nhanh với các sự kiện kinh tế vĩ mô".
Các chuyên gia đánh giá đồng hiện vẫn đang thấp hơn giá trị thực do yếu tố cung – cầu. Với số liệu hiện tại, đồng không thực sự thiếu hụt trên thị trường, nhưng dựa vào các dự báo năm nay và năm tới có vẻ tình hình sẽ diễn biến theo chiều ngược lại.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica giao tháng 5 tăng 0,65 US cent tương đương 0,6% lên 1,1755 USD/lb, trong khi robusta giao cùng kỳ hạn tăng 4 USD tương đương 0,2% lên 1.759 USD/tấn.
Giao dịch cà phê sôi động tại Indonesia trong tuần này, trong khi xuất khẩu cà phê của Việt Nam giảm so với tháng trước đó bởi cả nhu cầu và nguồn cung yếu. Dự báo xuất khẩu cà phê từ Việt Nam trong tháng 4 sẽ đạt 100.000-140.000 tấn, giảm so với ước tính xuất khẩu 180.000 tấn trong tháng 3.
Giá đường thô kỳ hạn tháng 5 tăng 0,09 US cent (0,7%) lên 12,35 US cent/lb từ mức thấp nhất hai năm rưỡi ở 12,18 USD cent/lb trong tuần trước, một phần do đồng nội tệ của Brazil mạnh lên so với đồng USD. Đường trắng kỳ hạn tháng 8 tăng 40 US cent (0,1%) lên 343,60 USD/tấn.
Ủy ban châu Âu dự báo sản lượng đường trắng tại EU sẽ giảm 3% trong niên vụ 2018/19 xuống 20,4 triệu tấn, sau khi tăng gần 25% trong năm trước do các nhà sản xuất được khuyến khích chấm dứt hạn ngạch trong khối.
Giá cao su kỳ hạn tại Tokyo tiếp tục giảm phiên thứ 4 liên tiếp do lo ngại về dự trữ ngày càng tăng ở Tokyo mặc dù tranh chấp thương mại Mỹ - Trung đang dịu đi.
Hợp đồng kỳ hạn tháng 9 trên sàn Tokyo giảm 3,3 JPY xuống 176,3 JPY (1,65 USD)/kg, sau khi chạm mức thấp nhất kể từ 28/3 trong phiên trước.
Tồn trữ cao su tại kho TOCOM tăng lên 12.554 tấn vào 20/3, tăng 181 tấn so với ngày 10/3 và gấp 8 lần một năm trước. Giá cao su tại Tokyo có thể giảm xuống 150 JPY/kg trong tháng 5, khi nhu cầu tăng lượng tồn trữ của khách hàng Nhật dường như kết thúc trong tháng này.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

63,54

+0,17

+0,25%

Dầu Brent

USD/thùng

68,33

+0,31

+0,39%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

42.020,00

-160,00

-0,38%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,68

+0,01

+0,30%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

197,10

-1,06

-0,53%

Dầu đốt

US cent/gallon

196,77

-0,88

-0,45%

Dầu khí

USD/tấn

604,25

-2,25

-0,37%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

58.280,00

-500,00

-0,85%

Vàng New York

USD/ounce

1.335,70

-7,20

-0,54%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.578,00

+19,00

+0,42%

Bạc New York

USD/ounce

16,41

+0,06

+0,34%

Bạc TOCOM

JPY/g

56,60

+0,60

+1,07%

Bạch kim giao ngay

USD/ounce

915,73

+3,18

+0,35%

Palladium giao ngay

USD/ounce

909,27

+1,86

+0,20%

Đồng New York

US cent/lb

303,60

-3,85

-1,25%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.816,00

+92,00

+1,37%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.009,00

+18,00

+0,90%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.237,00

-21,00

-0,64%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

21.050,00

+150,00

+0,72%

Ngô

US cent/bushel

386,25

-3,25

-0,83%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

465,00

+0,25

+0,05%

Lúa mạch

US cent/bushel

231,75

-1,00

-0,43%

Gạo thô

USD/cwt

12,33

-0,06

-0,48%

Đậu tương

US cent/bushel

1.015,50

-15,75

-1,53%

Khô đậu tương

USD/tấn

381,40

-2,20

-0,57%

Dầu đậu tương

US cent/lb

31,60

-0,18

-0,57%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

527,30

-1,70

-0,32%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.508,00

+33,00

+1,33%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

117,55

+0,65

+0,56%

Đường thô

US cent/lb

12,35

+0,08

+0,65%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

137,75

-1,10

-0,79%

Bông

US cent/lb

82,09

-0,48

-0,58%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

536,40

+10,00

+1,90%

Cao su TOCOM

JPY/kg

177,70

+1,40

+0,79%

Ethanol CME

USD/gallon

1,42

-0,01

-0,42%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg