Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm do thị trường lo ngại nhu cầu xăng dầu tại các thị trường mới nổi sẽ suy yếu.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 10/2018 giảm 1,15 USD (hay 1,65%) xuống 68,72 USD/thùng; dầu Brent giao tháng 11/2018 cũng giảm 1,03 USD (1,32%) xuống còn 77,14 USD/thùng.
Viện Dầu mỏ Mỹ (API) cho biết dự trữ dầu thô của nước này đã giảm 1,17 triệu thùng xuống còn 404,5 triệu thùng trong tuần tính đến ngày 31/8.
Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) dự đoán nhu cầu dầu mỏ toàn cầu sẽ vượt mốc 100 triệu thùng/ngày lần đầu tiên vào cuối năm nay. Trong khi đó, giới kinh doanh cũng lo ngại rằng lệnh cấm vận của Mỹ đối với ngành dầu mỏ của Iran từ tháng 11/2018 sẽ tác động đến nguồn cung trên toàn cầu.
Thị trường dầu cũng đang chịu áp lực giảm do chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc dấy lên mối lo ngại về nhu cầu giảm. Trump có thể áp thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu của Trung Quốc có trị giá 200 tỉ USD sau giai đoạn lấy ý kiến về thuế quan mới kết thúc vào 6/9/2018. Ngoài ra, khủng hoảng tiền tệ Thổ Nhĩ Kỳ cũng ảnh hưởng đến giá dầu, đồng lira Thổ Nhĩ Kỳ đã giảm hơn 40% trong năm nay. Abhishek Kumar, chuyên gia phân tích năng lượng cao cấp thuộc Interfax Energy cho biết: "Lo ngại về khủng hoảng tiền tệ Thổ Nhĩ Kỳ lan rộng sang các thị trường mới nổi khác, thúc đẩy mối lo ngại về nhu cầu dầu".
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng do USD sụt giả so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt. Vàng giao ngay tăng 0,5% lên 1.196,40 USD/ounce, phiên trước đó đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ ngày 24/8 là 1.189,20 USD/ounce; vàng giao tháng 12/2018 tăng 2,20 USD (0,2%) lên 1.201,30 USD/ounce.
Giá vàng đã giảm 1,5% so với mức cao được ghi nhận ngày 28/8 do sự suy yếu của đồng nội tệ tại các thị trường mới nổi và những lo ngại về tranh chấp thương mại toàn cầu đã “tiếp sức” cho đồng USD, khiến vàng trở nên đắt đỏ hơn đối với những khách hàng sở hữu các đồng tiền khác.
Đồng bạc xanh đã giảm xuống trong phiên ngày 5/9 sau báo cáo cho thấy Đức sẵn sàng chấp nhận một thỏa thuận ít chi tiết hơn về các quan hệ kinh tế và thương mại trong tương lai của Vương quốc Anh với Liên minh châu Âu (EU) trong nỗ lực hoàn tất thỏa thuận Brexit. Thông tin này đã giúp đẩy giá đồng bảng Anh và đồng euro đi lên.
Chuyên gia phân tích Carsten Menke thuộc Julius Baer cho biết do giá vàng vẫn gần mức “đáy” của một năm rưỡi là 1.159,96 USD/ounce được ghi nhận hồi tháng trước, nên ít có khả năng giá vàng sẽ giảm.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giao ngay tăng 0,6% lên 14,16 USD/ounce sau khi đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ tháng 1/2016 là 13,97 USD/ounce trong phiên trước.
Giá bạch kim giao ngay tăng 1,1% lên 784,20 USD/ounce, trong lúc giá palađi giao ngay giảm 0,7% xuống 973,50 USD/ounce.
Cả vàng và bạc đều giữ xu hướng giảm kể từ đầu năm 2018 đến nay, nhưng bạc ghi nhận mức giảm gần gấp đôi những gì vàng đã đánh mất. Đà tăng của USD và lộ trình tăng lãi suất của Mỹ đang làm giảm sức hấp dẫn của các kim loại quý, trong đó bạc bị ảnh hưởng nhiều hơn.
Cụ thể, giá bạc giảm 16% trong khi giá vàng mất khoảng 8,5%. Theo đó, tỷ lệ vàng/bạc lên cao nhất gần 10 năm, nói cách khác là bạc xuống thấp nhất so với vàng kể từ tháng 10/2008.
USD tăng giá mạnh và Mỹ nâng lãi suất là hai yếu tố kéo giảm sức hấp dẫn của những tài sản vốn không bị ảnh hưởng bởi lãi suất, đặc biệt là kim loại quý. Bạc chịu áp lực càng lớn bởi tâm lý lo ngại rằng, nhu cầu của lĩnh vực công nghiệp sẽ suy yếu trong bối cảnh căng thẳng thương mại gia tăng và khối thị trường mới nổi rơi vào khủng hoảng.
Tỷ lệ vàng/bạc biểu hiện mối quan hệ giá giữa vàng và bạc, cho thấy số ounce bạc cần mua để bằng với giá trị của một ounce vàng.

Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá đồng tăng trở lại sau chuỗi giảm 5 phiên liên tiếp, do USD giảm, song mức tăng bị hạn chế bởi lo ngại chiến tranh thương mại giữa Mỹ và nước tiêu thụ kim loại hàng đầu – Trung Quốc – kéo dài.

Giá đồng kỳ hạn giao sau 3 tháng trên sàn London tăng 1% lên 5.871 USD/tấn, sau khi giảm 2,5% trong phiên trước đó. Một thương nhân có trụ sở tại London cho biết: "Giá đồng tăng do đồng USD giảm, hoạt động bán tháo suy giảm và các nhà đầu tư quay trở lại thị trường sau kỳ nghỉ lễ". Trong khi đó, giá nickel giảm 0,2% xuống 12.450 USD/tấn, thấp nhất kể từ tháng 1/2018. Kẽm được sử dụng sản xuất thép mạ tăng 0,1% lên 2.419,5 USD/tấn, sau khi chạm mức thấp nhất 2 tuần.
Giá thép tại Trung Quốc kết thúc phiên giảm 1%, do các nhà máy thép tại Đường Sơn - thành phố sản xuất thép hàng đầu Trung Quốc – tăng cường sản xuất sau khi các hạn chế chống ô nhiễm môi trường hết hiệu lực.
Giá thép cây kỳ hạn tháng 1/2019 trên sàn Thượng Hải giảm 1% xuống 4.066 CNY (595,26 USD)/tấn.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 12/2018 tăng 2,35 US cent, tương đương 2,3% lên 1,038 USD/lb, tăng lần đầu tiên trong 6 phiên sau khi chạm mức thấp nhất 12 năm là 98,65 US cent/lb trong phiên trước đó, do real Brazil tăng so với USD. Giá cà phê robusta kỳ hạn tháng 11/2018 tăng 26 USD tương đương 1,8% lên 1.501 USD/tấn, sau khi chạm mức thấp nhất 2,5 năm trong phiên trước đó là 1.465 USD/tấn.
Giá đường kết thúc phiên tăng cao nhất 4 tuần, do hoạt động bán kỹ thuật, trong khi giá cà phê arabica tăng trở lại từ mức thấp nhất 12 năm, do đồng real Brazil tăng.
Giá đường thô kỳ hạn tháng 10/2018 tăng phiên thứ 5 liên tiếp, tăng 0,25 US cent tương đương 2,4% lên 10,89 US cent/lb, trong phiên có lúc tăng lên 10,97 US cent/lb, cao nhất kể từ ngày 9/8/2018. Đường trắng kỳ hạn tháng 12/2018 tăng 7,2 USD tương đương 2,2% lên 334,2 USD/tấn.
Giá lúa mì giảm 1,8%, phiên giảm thứ 3 liên tiếp, do triển vọng xuất khẩu đối với nguồn cung Mỹ giảm, mặc dù sản lượng tại các khu vực sản xuất trọng điểm biển Đen giảm. Giá lúa mì đỏ, mềm vụ đông kỳ hạn tháng 12/2018 trên sàn Chicago giảm 9-3/4 US cent xuống 5,21-3/4 USD/bushel.
Trong khi đó, ngô giảm từ mức cao nhất 2 tuần trong phiên trước đó, do các nhà đầu tư đánh giá tác động đối với cây trồng sau đợt mưa lớn tại các khu vực Trung tây Mỹ và thuế xuất khẩu bởi nhà cung cấp đối thủ Argentina. Giá ngô kỳ hạn tháng 12/2018 trên sàn Chicago giảm 3 US cent xuống 3,65-1/4 USD/bushel và đậu tương kỳ hạn tháng 11/2018 giảm 6-1/4 US cent xuống 8,38 USD/bushel, do lo ngại mới về chiến tranh thương mại với Trung Quốc tiếp diễn.
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

68,72

-1,15

-1,65%

Dầu Brent

USD/thùng

77,14

-1,03

-1,32%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

50.200,00

-450,00

-0,89%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,80

0,00

0,00%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

196,11

-0,37

-0,19%

Dầu đốt

US cent/gallon

223,05

-0,40

-0,18%

Dầu khí

USD/tấn

686,25

-2,75

-0,40%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

68.590,00

-360,00

-0,52%

Vàng New York

USD/ounce

1.204,70

+3,40

+0,28%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.278,00

+15,00

+0,35%

Bạc New York

USD/ounce

14,26

+0,04

+0,25%

Bạc TOCOM

JPY/g

50,80

+0,30

+0,59%

Bạch kim

USD/ounce

786,51

+1,96

+0,25%

Palađi

USD/ounce

977,60

+3,39

+0,35%

Đồng New York

US cent/lb

262,60

+1,60

+0,61%

Đồng LME

USD/tấn

5.871,00

+56,00

+0,96%

Nhôm LME

USD/tấn

2.068,00

+6,00

+0,29%

Kẽm LME

USD/tấn

2.419,50

+4,00

+0,17%

Thiếc LME

USD/tấn

18.825,00

0,00

0,00%

Ngô

US cent/bushel

367,25

+2,00

+0,55%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

524,00

+2,25

+0,43%

Lúa mạch

US cent/bushel

249,25

+2,75

+1,12%

Gạo thô

USD/cwt

10,86

+0,05

+0,46%

Đậu tương

US cent/bushel

841,25

+3,25

+0,39%

Khô đậu tương

USD/tấn

310,30

+0,60

+0,19%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,63

+0,07

+0,25%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

496,80

+0,20

+0,04%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.311,00

-21,00

-0,90%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

103,80

+2,35

+2,32%

Đường thô

US cent/lb

10,89

+0,25

+2,35%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

152,90

-2,35

-1,51%

Bông

US cent/lb

81,77

+0,06

+0,07%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

412,40

-6,60

-1,58%

Cao su TOCOM

JPY/kg

168,40

+0,40

+0,24%

Ethanol CME

USD/gallon

1,30

-0,03

-1,97%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg