Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm mạnh sau số liệu cho thấy dự trữ của Mỹ tăng chứng tỏ nhu cầu có thể đang yếu đi, trong khi sản lượng dầu thô theo tuần của nước này chạm mức cao mới.
Kết thúc phiên giao dịch, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao dịch ở mức 55,96 USD/thùng, thấp nhất kể từ ngày 16/11, giảm 1,66 USD hay 2,9% so với phiên trước đó. Đây là mức giảm tính theo ngày lớn nhất của giá dầu thô Mỹ kể từ ngày 6/10. Dầu Brent Biển Bắc giảm 1,64 USD hay 2,6% xuống còn 61,22 USD/thùng, mức khép phiên thấp nhất kể từ ngày 2/11.
Theo số liệu chính thức, dự trữ xăng và các sản phẩm chưng cất của Mỹ đã tăng lần lượt 6,8 triệu và 1,7 triệu thùng, vượt các dự đoán được đưa ra trong cuộc khảo sát gần đây của hãng tin Reuters.
Lượng xăng dự trữ thường tăng lên trong tháng cuối năm, nhưng với con số 221 triệu thùng, lượng xăng dự trữ đã tăng nhẹ so với mức bình quân tại thời điểm này trong 5 năm qua.
Bên cạnh đó, sản lượng dầu của Mỹ tăng lên 9,7 triệu thùng/ngày, mức cao mới tính theo tuần dù vẫn thấp hơn các mức cao kỷ lục được ghi nhận vào những năm 1970. Sự gia tăng này có thể lấn át những nỗ lực cắt giảm sản lượng của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC), Nga và các nước sản xuất dầu khác.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm nhẹ xuống mức thấp nhất 2 tháng do USD mạnh lên trước diễn biến của tiến trình cải cách thuế tại nước Mỹ.
Giá vàng giao ngay giảm nhẹ 0,1% xuống 1.264,57 USD/ounce, phiên trước đó giá có lúc xuống mức thấp nhất kể từ phiên giao dịch ngày 6/10; vàng tháng 2/2018 nhích 0,1% lên 1.266,1 USD/ounce.
Đồng USD phiên này tăng chạm mức cao trong hai tuần so với giỏ các đồng tiền chủ chốt khác do thị trường lạc quan về tiến trình luật hóa kế hoạch cải cách thuế của Mỹ. Đồng bạc xanh mạnh lên khiến giá các tài sản định giá bằng đồng USD, trong đó có vàng, trở nên đắt đỏ hơn đối với người nắm giữ các đồng tiền khác.
Theo kết quả cuộc thăm dò các chuyên gia kinh tế do hãng tin Reuters thực hiện, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) gần như chắc sẽ tăng lãi suất trong cuộc họp sắp tới, và đó cũng là diễn biến chi phối trực tiếp đến giá vàng. Lãi suất tăng sẽ làm tăng chi phí cơ hội nắm giữ tài sản không sinh lời như vàng và khiến đồng USD mạnh lên.
Thông tin từ nền kinh tế Mỹ có sự khởi sắc. Số nhà mới bán ra đạt 685.000 căn, cao hơn mức 645.000 căn thực tế kỳ trước và 627.000 căn dự kiến. Chỉ số nhà chờ bán (không bao gồm nhà đang xây, tăng lên 3,5% trong khi thực tế kỳ trước là -0,4% và dự báo chỉ 1,1%. Lạm phát chi tiêu tiêu dùng giảm từ 0,9% kỳ trước xuống còn 0,3%.
Niềm tin của các nhà sản xuất kinh doanh tại Chicago tăng. Đơn xin bảo hiểm thất nghiệp tuần qua giảm xuống 238.000 đơn so với mức 240.000 đơn kỳ trước và thấp hơn so với mức 241.000 đơn dự báo. Đồng USD biến động khá mạnh trong tuần dù chốt tuần đóng cửa ở mức 92.78 điểm, sát mức giá mở cửa 92.77 điểm. Giá vàng giảm trong khi đồng đô la Mỹ đứng giá.
Kết quả khảo sát cho thấy các chuyên gia nhận định tuần này giá vàng có thể đi ngang hoặc giảm khi quanh quẩn dưới mức 1300 USD/ounce khá lâu mà chưa bứt phá qua ngưỡng này nhiều tuần qua. Mục tiêu trước mắt giảm xuống 1255 USD/Ounce.
Trên thị trường nông sản, giá đường thô giao tháng 3 xuống mức thấp nhất 1 tháng, sau khi giảm 0,45 US cent tương đương 3% xuống 14,45 US cent/lb; đường trắng giao cùng kỳ hạn cũng giảm 7,7 USD tương đương 2% xuống 375,30 USD/tấn, cũng là mức thấp nhất 1 tháng.
Triển vọng sản lượng đường thế giới có khả năng đạt mức cao đang gây áp lực lên thị trường đường. Sản lượng ở các nhà máy đường Ấn Độ tới thời điểm hiện tại đã tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước, trong khi sản lượng của Liên minh châu Âu và xuất khẩu của Pakistan dự báo cũng sẽ tăng mạnh.
Cà phê arabica cũng giảm giá 1,3 US cent tương đương 1% xuống 1,261 USD/lb, là phiên thứ 3 liên tiếp giảm, trong khi robusta tăng nhẹ 1 USD tương đương 0,6% lên 1.758 USD/tấn.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

11/11

+/-

+/-(%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

56,96

-1,66

-2,9%

Dầu Brent

USD/thùng

61,22

-1,64

-2,61%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

40.850,00

-700,00

-1,68%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,91

-0,01

-0,48%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

166,56

+0,47

+0,28%

Dầu đốt

US cent/gallon

186,63

+0,50

+0,27%

Dầu khí

USD/tấn

547,00

-9,75

-1,75%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

56.250,00

-670,00

-1,18%

Vàng New York

USD/ounce

1.265,70

-0,40

-0,03%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.553,00

-6,00

-0,13%

Bạc New York

USD/ounce

15,99

+0,04

+0,22%

Bạc TOCOM

JPY/g

58,40

0,00

0,00%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

903,25

+1,90

+0,21%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

997,00

+0,24

+0,02%

Đồng New York

US cent/lb

296,80

+0,65

+0,22%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.550,00

+7,00

+0,11%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.019,00

-33,00

-1,61%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.085,00

-27,00

-0,87%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

19.480,00

-45,00

-0,23%

Ngô

US cent/bushel

352,75

-1,00

-0,28%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

425,25

-7,50

-1,73%

Lúa mạch

US cent/bushel

247,75

-6,75

-2,65%

Gạo thô

USD/cwt

12,19

-0,14

-1,18%

Đậu tương

US cent/bushel

1.002,75

-5,75

-0,57%

Khô đậu tương

USD/tấn

342,30

-1,00

-0,29%

Dầu đậu tương

US cent/lb

33,17

-0,33

-0,99%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

508,00

-1,70

-0,33%

Cacao Mỹ

USD/tấn

1.906,00

-26,00

-1,35%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

126,10

-1,30

-1,02%

Đường thô

US cent/lb

14,45

-0,45

-3,02%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

157,70

-4,35

-2,68%

Bông

US cent/lb

72,72

+0,21

+0,29%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

424,40

+1,90

+0,45%

Cao su TOCOM

JPY/kg

204,90

-0,30

-0,15%

Ethanol CME

USD/gallon

1,32

-0,04

-3,02%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg