Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm do USD tăng giá và nguồn cung của Mỹ tăng bất chấp OPEC giảm sản lượng và quan hệ Mỹ-Iran căng thẳng.
Giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 3/2017 trên sàn New York giảm 82 UScent, tương đương 1,5%, xuống 53,01 USD/thùng, trong khi đó dầu Brent giao tháng 4/2017 trên sàn London giảm 1,09 USD, tương đương 1,19%, xuống 55,72 USD/thùng. Mức chênh giữa dầu Brent và dầu thô Mỹ đã giảm xuống khoảng 2,15USD, mức thấp nhất kể từ đầu tháng 12.
Đồng USD nhích nhẹ so với rổ tiền tệ bởi lo ngại chính biến tại châu Âu trước các đợt tổng tuyển cử. Đồng USD tăng giá khiến dầu trở nên đắt đỏ hơn so với các tài sản thanh toán bằng đồng tiền khác.
Trong 3 tháng qua, giá dầu được hỗ trợ bởi thỏa thuận cắt giảm sản lượng của OPEC và một số quốc gia khác, dẫn đầu bởi Nga.
Theo kết quả khảo sát của Reuters, tính tới thời điểm này, Nga và nước sản xuất độc lập khác đã thực hiện 80% thỏa thuận. Mặc dù vậy, Nga mới thực hiện 1/3 thỏa thuận khi cắt giảm khoảng 100.000 thùng/ngày.
Thỏa thuận lịch sử của OPEC và các quốc gia khác dự kiện sẽ giúp nguồn cung toàn cầu giảm 2% thông qua việc cắt giảm sản lượng 1.758.000 thùng/ngày. Thỏa thuận này kéo dài 6 tháng và có hiệu lực từ ngày 1/1.
Tuy nhiên ngược lại, hoạt động sản xuất tại Mỹ lại gia tăng. Số giàn khoan đang hoạt động tăng tuần thứ 13 trong 14 tuần gần nhất, theo số liệu của Baker Hughes.
Các lệnh trừng phạt mới của chính quyền ông Donald Trump nhằm vào Iran, mặc dù không ảnh hưởng tới sản lượng dầu, vẫn làm gia tăng lo ngại về tình hình leo thang, điều có thể ảnh hưởng tới ngành xuất khẩu của nhà sản xuất lớn thứ ba OPEC.
Kể từ khi được gỡ bở các lệnh trừng phạt hồi đầu năm 2016, Iran đang làm mọi cách để tăng sản lượng nhằm lấy lại thị phần đã mất. Trong thỏa thuận OPEC, Iran được phép không cắt giảm sản lượng nhưng cũng không được tăng cường sản xuất.
Tuy nhiên, khi vượt qua ngưỡng 50 USD/thùng, giá dầu dường như đang mất phương hướng.
Iran đã bắt đầu tăng sản lượng dầu thô kể từ khi các lệnh trừng phạt quốc tế hết hiệu lực vào năm 2016. Nước này được đặc cách khỏi thỏa thuận cắt sản lượng của OPEC.
Chuyên gia tại PVM nhận xét sự giằng co giữa hai xu hướng tăng và giảm tiếp tục kéo dài trong tuần trước và chưa có dấu hiệu rõ ràng của người chiến thắng. Giá dầu Brent tạm thời chưa thể phá mức 57USD/thùng, nhưng nhà đầu tư sẽ mua vào nếu giá giảm xuống dưới 54USD/thùng.
Theo công ty dịch vụ dầu mỏ Baker Hughes, số lượng giàn khoan tại Mỹ tuần trước tiếp tục tăng. Đây là tuần tăng thứ 13 trong 14 tuần qua. Không chỉ có vậy, lượng dầu lưu kho tại Mỹ tuần trước cũng tăng mạnh hơn dự báo.
Các quỹ phòng ngừa rủi ro và các nhà đầu cơ dự báo giá dầu WTI sẽ tiếp tục tăng và các khoản đầu tư của họ vào thị trường tương lai đang đạt mức kỉ lục.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng khoảng 1% lên mức cao nhất trong gần ba tháng qua do do những quan ngại về tình hình chính trị ở Mỹ và châu Âu.
Giá vàng giao ngay tăng 1,1% lên 1.233,01 USD/ounce, trong phiên có thời điểm chạm mức cao nhất kể từ tháng 11/2016 là 1.233,80 USD/ounce; giá vàng giao tháng 4/2017 tăng 0,93% lên 1.232,10 USD/ounce.
Những chính sách của Tổng thống Mỹ Donald Trump đã làm gia tăng bất ổn chính trị ở nước này, đặc biệt gây tranh cãi nhất là sắc lệnh cấm người tị nạn và công dân từ 7 quốc gia nhập cảnh vào Mỹ. Một thẩm phán liên bang tại thành phố Seattle, bang Washington, ngày 3/2 đã ra phán quyết trên quy mô toàn quốc chặn sắc lệnh này.
Tại châu Âu, các cuộc bầu cử trong năm nay ở nhiều nước như Hà Lan, Pháp và Đức cũng đang làm dấy lên những lo ngại, qua đó hỗ trợ giá vàng.
Tuy nhiên, chuyên gia Warren Patterson của ING cho biết nhu cầu vàng của Trung Quốc và Ấn Độ vẫn còn yếu là một yếu tố bất lợi cho giá vàng.
Lượng vàng nhập khẩu ròng của Trung Quốc trong tháng 12/2016 giảm 60% so với cùng kỳ năm trước, xuống còn 51,51 tấn. Trong khi đó, nhu cầu vàng ở Ấn Độ cũng giảm 21,2% trong năm 2016 do ảnh hưởng của những quy định mới.
Trên thị trường nông sản, giá đường tăng do nguồn cung khan hiếm, còn cà phê giảm bởi thị trường theo dõi quyết định của Brazil có hay không nhập khẩu cà phê.
Đường thô tăng giá lên mức cao nhất trong vòng gần 3 tháng do thị trường hàng thực trở nên khan hiếm. Đường thô giao tháng 3 trên sàn New York tăng 0,07 US cent hay 0,33% lên 21,18 US cent/lb – mức cao nhất kể từ giữa tháng 11, trong khi đó đường trắng giao tháng 5 giá tăng 2,5 USD lên 558 USD/tấn. Green Pool đã hạ dự báo về sản lượng đường Ấn Độ xuống 20,3 triệu tấn từ mức 20,5 triệu tấn dự báo trước đây.

Cà phê robusta giao tháng 3 giá giảm 19 USD hay 0,9% xuống 2.158 USD/tấn. Các thương gia cho biết thị trường đang chờ đợi xem Brazil có quyết định nhập khẩu cà phê robusta để bù lấp chỗ thiếu hụt trong nước hay không.

 

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

53,01

-0,85

-1,5%

Dầu Brent

USD/thùng

55,72

-0,09

1,19%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

38.960,00

+80,00

+0,21%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

3,20

+0,01

+0,25%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

154,10

+0,81

+0,53%

Dầu đốt

US cent/gallon

166,03

+0,85

+0,51%

Dầu khí

USD/tấn

501,50

-2,75

-0,55%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

47.540,00

+210,00

+0,44%

Vàng New York

USD/ounce

1.234,70

+2,60

+0,21%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.414,00

0,00

0,00%

Bạc New York

USD/ounce

17,72

+0,02

+0,12%

Bạc TOCOM

JPY/g

63,50

+0,20

+0,32%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

1.011,00

-3,85

-0,38%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

770,39

-1,99

-0,26%

Đồng New York

US cent/lb

264,50

-0,65

-0,25%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

5.846,00

+74,00

+1,28%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

1.834,50

0,00

0,00%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.793,00

-3,00

-0,11%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

19.220,00

-550,00

-2,78%

Ngô

US cent/bushel

364,00

+0,25

+0,07%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

422,50

0,00

0,00%

Lúa mạch

US cent/bushel

260,00

-1,25

-0,48%

Gạo thô

USD/cwt

9,47

-0,02

-0,21%

Đậu tương

US cent/bushel

1.040,00

+4,00

+0,39%

Khô đậu tương

USD/tấn

334,10

+1,30

+0,39%

Dầu đậu tương

US cent/lb

34,61

+0,17

+0,49%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

516,10

-0,70

-0,14%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.047,00

-25,00

-1,21%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

146,55

-2,15

-1,45%

Đường thô

US cent/lb

21,18

+0,07

+0,33%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

165,50

-1,50

-0,90%

Bông

US cent/lb

75,63

-0,78

-1,02%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

360,10

+9,50

+2,71%

Cao su TOCOM

JPY/kg

296,70

-2,90

-0,97%

Ethanol CME

USD/gallon

1,54

+0,01

+0,85%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg