Trên thị trường năng lượng, giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) và dầu Brent biến động trái chiều sau khi số liệu của Chính phủ Mỹ cho thấy lượng dầu dự trữ của nước này bất ngờ tăng mạnh.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu Brent Biển Bắc tăng 13 US cent hay 0,2% lên 65,99 USD/thùng, trong khi giá dầu thô ngọt nhẹ Mỹ tại New York giảm 34 US cent hay 0,6% xuống còn 56,22 USD/thùng.
Cơ quan Thông tin năng lượng Mỹ (EIA) cho biết lượng dầu dự trữ của Mỹ đã tăng 7,1 triệu thùng trong tuần trước, vượt xa dự đoán tăng 1,2 triệu thùng mà giới phân tích đưa ra trước đó. Ngược lại, lượng xăng dự trữ, lại giảm 4,2 triệu thùng, trong khi giới phân tích dự đoán chỉ giảm 2,1 triệu thùng.
Bên cạnh đó, giá dầu cũng chuyển động theo chiều hướng đi xuống của thị trường chứng khoán Mỹ, khi tiến trình đàm phán thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc chưa cho thấy dấu hiệu tiến triển rõ ràng.
Thị trường “vàng đen” thời gian qua đã bị ảnh hưởng bởi sản lượng dầu thô của Mỹ đang trên đà tăng mạnh. EIA cho biết sản lượng của Mỹ ở mức 12,1 triệu thùng/ngày trong tuần trước, mức cao nhất từ trước đến nay.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng ổn định quanh mức thấp nhất 5 tuần trong bối cảnh đồng USD và chứng khoán giảm nhẹ. Cuối phiên giao dịch, vàng giao ngay ở mức 1.286,01 USD/ounce; vàng giao sau nhích nhẹ 0,2% lên 1.287,6 USD/ounce.
Giá vàng đã chạm mức thấp 1.280,70 USD/ounce trong phiên 5/3/2019, thấp nhất kể từ ngày 25/1, sau khi để mất hơn 4% kể từ lúc đạt mức cao nhất của 10 tháng hôm 20/2.
Số liệu yếu kém từ Khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) trong vài tuần trước đó đã làm dấy lên đồn đoán rằng Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) có thể hạ dự báo lạm phát và tăng trưởng của khu vực trong năm 2019, đồng thời tạm ngừng nâng lãi suất trong cuộc họp ngày 7/3.
Trong khi đó, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã một lần nữa hạ dự báo cho nền kinh tế toàn cầu trong năm 2019 và 2020, viện dẫn những tranh chấp thương mại và bất ổn từ Brexit.
Ngoài ra, các nhà đầu tư đang chờ đợi báo cáo việc làm của Mỹ, dự kiến công bố ngày 8/3. Đây được xem là một chỉ dấu quan trọng để đánh giá thể trạng của nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Về những kim loại quý khác, giá palađi tăng 0,9% lên 1.529,51 USD/ounce. Giá bạc giao ngay giảm 0,3% xuống 15,07 USD/ounce, sau khi chạm mức thấp nhất kể từ ngày 27/12/2018 là 15 USD/ounce trong phiên trước đó. Giá bạch kim giao ngay giảm 1,6% xuống 823 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại cơ bản, giá nhôm và các kim loại công nghiệp khác giảm trong phiên do các nhà đầu tư đợi thêm những dấu hiệu về nhu cầu tại Trung Quốc sau Tết Nguyên đán có phục hồi hay không.
Nhôm LME chốt phiên giảm 0,4% xuống 1.866 USD/tấn. Đồng LME giao sau 3 tháng giảm 0,2% đóng cửa tại 6.468 USD/tấn. Giá đồng LME giao ngay cao hơn so với hợp đồng giao sau 3 tháng đến 70 USD/tấn, cao nhất kể từ tháng 1/2015, cho thấy nguồn cung thắt chặt. Giới phân tích cho biết tình trạng thiếu hụt chủ yếu trong hệ thống của LME, nguồn cung vẫn sẵn sàng ở những nơi khác.
Cho tới nay, những dấu hiệu nhu cầu kim loại tại Trung Quốc là không rõ ràng, với dự trữ tăng tại nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới này và mức cộng của giá giao ngay yếu. Cũng gây áp lực lên thị trường này là lo ngại về tăng trưởng toàn cầu sau khi OECD hạ dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2019 và 2020.
Chỉ số LME của 6 kim loại chính đã tăng 5% trong 3 tuần qua, với số liệu chỉ ra vị thế mua ròng tăng với nhiều kim loại.
Giá nguyên liệu thô sản xuất thép của Trung Quốc giảm trong phiên 6/3 sau khi thành phố sản xuất thép hàng đầu Đường Sơn duy trì cảnh báo khói bụi cao nhất trong bối cảnh thời tiết bất lợi, trong khi chính quyền tuyên bố tiếp tục các biện pháp chống khói bụi. Giá thép cũng giảm, với hợp đồng thép cây trong xây dựng tại Thượng Hải giảm 1,2% xuống 3.737 CNY/tấn. Thép cuộn cán nóng sử dụng trong ô tô và đồ gia dụng đã giảm 1,6% xuống 3.708 CNY. Hợp đồng quặng sắt trên sàn giao dịch hàng hóa Đại Liên giảm xuống 610,5 CNY khi kết thúc phiên.
Báo động mức 1, mức cao nhất trong hệ thống cảnh báo ô nhiễm 4 cấp của Trung Quốc, diễn ra kể từ ngày 1/3/2019, yêu cầu các nhà máy thép hạn chế sản lượng 40 tới 70% hay thậm chí dừng sản xuất, phụ thuộc quy mô khí thải của họ. Tuy nhiên giao dịch trầm lắng trong hầu hết ngày, trong khi đó các nhà đầu tư đợi manh mối tiến triển trong các cuộc đàm phán thương mại Mỹ - Trung để có quyết định chiều hướng giá cả. Thành phố sản xuất thép hàng đầu Trung Quốc, Đường Sơn đã kéo dài mức báo động cấp 1 do tình trạng thời tiết xấu duy trì.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica giao tháng 5/2019 giảm 0,95 US cent tương đương 1% xuống 98,70 US cent/lb, trong khi robusta giao cùng kỳ hạn tăng 5 USD tương đương 0,3% lên 1.532 USD/tấn.
Đường thô kỳ hạn tháng 5/2019 chốt phiên giảm 0,28 US cent hay 2,3% xuống 12,15 US cent/lb, thấp nhất kể từ ngày 7/1/2019. Thời tiết đang cải thiện tại Brazil và giá dầu giảm tiếp thêm áp lực cho thị trường đường. Giá dầu giảm có thể khuyến khích các nhà máy Brazil sản xuất thêm đường hơn là ethanol sinh học. Đường trắng kỳ hạn tháng 5/2019 giảm 4,8 USD hay 1,4% xuống 338,1 USD/tấn.
Giá cao su tại Tokyo giảm ngày thứ hai liên tiếp theo xu hướng của giá dầu. Hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 8/2019 trên sàn giao dịch hàng hóa Tokyo (TOCOM) đóng cửa giảm 1 JPY xuống 204,6 JPY/kg. Hợp đồng cao su giao tháng 5/2019 trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải giảm 20 CNY xuống 12.455 CNY/tấn.
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

56,22

-0,34

-0,6%

Dầu Brent

USD/thùng

65,99

+0,13

+0,2%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

44.970,00

+360,00

+0,81%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,85

+0,01

+0,28%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

179,08

+0,18

+0,10%

Dầu đốt

US cent/gallon

201,31

-0,31

-0,15%

Dầu khí

USD/tấn

616,50

+1,50

+0,24%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

61.100,00

+370,00

+0,61%

Vàng New York

USD/ounce

1.287,90

+0,30

+0,02%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.608,00

-9,00

-0,19%

Bạc New York

USD/ounce

15,12

+0,03

+0,20%

Bạc TOCOM

JPY/g

54,00

-0,10

-0,18%

Bạch kim

USD/ounce

828,58

+1,18

+0,14%

Palađi

USD/ounce

1.535,15

-1,66

-0,11%

Đồng New York

US cent/lb

292,75

+0,90

+0,31%

Đồng LME

USD/tấn

6.468,00

-10,00

-0,15%

Nhôm LME

USD/tấn

1.866,00

-8,00

-0,43%

Kẽm LME

USD/tấn

2.788,00

+8,00

+0,29%

Thiếc LME

USD/tấn

21.400,00

-165,00

-0,77%

Ngô

US cent/bushel

371,00

-1,50

-0,40%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

448,75

-1,25

-0,28%

Lúa mạch

US cent/bushel

268,50

-0,50

-0,19%

Gạo thô

USD/cwt

10,86

-0,01

-0,09%

Đậu tương

US cent/bushel

902,50

+0,50

+0,06%

Khô đậu tương

USD/tấn

306,10

0,00

0,00%

Dầu đậu tương

US cent/lb

29,74

-0,04

-0,13%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

456,00

+0,70

+0,15%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.245,00

+88,00

+4,08%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

98,70

-0,95

-0,95%

Đường thô

US cent/lb

12,16

-0,28

-2,25%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

115,90

+0,05

+0,04%

Bông

US cent/lb

74,21

-0,40

-0,54%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

370,50

+10,40

+2,89%

Cao su TOCOM

JPY/kg

201,30

-3,30

-1,61%

Ethanol CME

USD/gallon

1,34

-0,01

-0,44%

Nguồn: VITIC/Bloomberg, Reuters, CafeF