Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm sau khi số liệu chính thức được công bố cho thấy lượng dầu thô dự trữ của Mỹ tăng mạnh. Kết thúc phiên giao dịch, dầu thô ngọt nhẹ (WTI)
giao tháng 7/2018 đã giảm 0,79 USD xuống 64,73 USD/thùng; dầu Brent giao tháng 8/2018 giảm nhẹ 0,02 USD xuống 75,36 USD/thùng.
Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) ngày 6/6 cho biết dự trữ dầu thô của nước này đã tăng 2,1 triệu thùng trong tuần kết thúc vào ngày 1/, trái với dự đoán của các nhà phân tích là giảm 1,8 triệu thùng, đồng thời cho biết sản lượng dầu thô của Mỹ đạt mức cao kỷ lục 10,8 triệu thùng/ngày.
Giới kinh doanh đang theo dõi sát cuộc họp của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) dự kiến diễn ra vào cuối tháng này. Dự kiến OPEC và các nhà sản xuất dầu lớn khác sẽ quyết định tăng sản lượng để "hạ nhiệt" thị trường vàng đen.
Tin từ Bộ trưởng Dầu mỏ Ấn Độ cho biết đối tác Saudi Arabia cho ông biết rằng vương quốc Trung Đông này đang đảo ngược chính sách cắt giảm sản lượng. Trước đó, Chính phủ Mỹ đã đề xuất Saudi Arabia và các nước OPEC khác nâng sản lượng lên.
Cho tới thời điểm hiện tại, OPEC và các nước ngoài OPEC vẫn tiếp tục hợp tác thực hiện thỏa thuận giảm sản lượng. Arab Saudi và một số nước trong và ngoài OPEC dự định sẽ tiếp tục tuân thủ thỏa thuận cắt giảm sản lượng đến hết năm 2018. Tuy nhiên, các nước sẽ dần điều chỉnh sản lượng để bù đắp lượng cung bị thiếu hụt từ Iran và Venezuela, và nếu nguồn cung bị thiếu hụt, các nước sẽ đưa ra những hành động phù hợp. Mức cắt giảm sẽ được điều chỉnh.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng vững mặc dù USD yếu đi bởi khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tuần tới sẽ quyết định nâng lãi suất sau những số liệu kinh tế tích cực. Giá vàng giao ngay vững ở 1.295,80 USD/ounce, trong khi vàng giao tháng 8 giảm 0,1% (80 US cent) xuống 1.301,40 USD/ounce.
Đồng USD yếu đi trong ngày 6/6 đã hỗ trợ cho giá vàng sau khi đồng euro leo lên mức cao của 10 ngày, trong bối cảnh các quan chức Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cho biết việc kết thúc chương trình mua trái phiếu "khủng" vào cuối năm 2018 là hợp lý.
Tuy nhiên, khả năng Fed nâng lãi suất vào tuần tới đang “hiện hữu” nhờ số liệu kinh tế tích cực của Mỹ. Lãi suất tăng có thể kéo giá đồng USD lên cao, qua đó gây sức ép lên vàng. Naeem Aslam, chuyên gia phân tích thị trường thuộc ThinkMarkets, cho biết chỉ số đồng USD tăng so với các đồng tiền lớn khác có thể đẩy giá vàng trở về mốc trên 1.280 USD/ounce.
Ole Hansen, người đứng đầu bộ phận chiến lược hàng hóa tại Saxo Bank ở Copenhagen, nhận định giá vàng đang bị “mắc kẹt” trong biên độ giao dịch bình quân của 200 ngày là khoảng 1.286-1.308 USD/ounce.
Về những kim loại quý khác, giá bạc tăng 1,2% lên 16,65 USD/ounce và giá bạch kim tăng 0,2% lên 902 USD/ounce trong khi palađi tăng 2,2% lên 1.015,75 USD/ounce vào lúc đóng cửa giao dịch sau khi có lúc đạt mức cao nhất 6 tuần là 1.024,90 USD/ounce.
Giá bạch kim bắt đầu hồi phục dần bởi mức thiếu hụt trong năm 2018 khả năng sẽ cao kỷ lục 4 năm do nhu cầu trong công nghiệp và làm chất xúc tác đồng loạt tăng trong khi nguồn cung tại các mỏ bị hạn chế. Các nhà phân tích của GFMS dự báo thiếu cung năm nay sẽ tăng lên 280.000 tấn, từ mức thiếu 53.000 tấn năm 2017. Thị trường palađi năm nay dự báo cũng sẽ thiếu hụt khoảng 0,3 triệu ounce và giá kim loại quý này dự báo cũng sẽ lập kỷ lục cao mới.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá đồng tiếp tục tăng lên mức cao nhất ba tháng rưỡi do USD giảm mạnh trong khi vẫn còn đó nỗi lo về khả năng gián đoạn nguồn cung ở Chile và nhu cầu mua vào mạnh lên sau khi giá liên tiếp tăng vượt các mức kỹ thuật cơ bản. Đồng giao sau 3 tháng trên sàn London phiên vừa qua có lúc đạt 7.238 USD/tấn, cao nhất kể từ 16/2, và kết thúc phiên ở mức 7.220 USD/tấn (tăng 1,7% so với đóng cửa phiên trước). Trong tuần này, giá đồng đã tăng gần 4% sau khi công đoàn công nhân của mỏ Escondida (hãng BHP) ở Chile bắt đầu đợt thương lượng về tiền lương. Đây là mỏ đồng lớn nhất thế giới, và năm ngoái công nhân đã từng thương lượng như vậy và sau khi đề xuất của họ không được giới chủ chấp thuận thì sản lượng hàng năm của cơ sở này đã giảm gần 8%.
Giá nhôm tăng 1,5% lên 2.345 USD/tấn, cao nhất kể từ 10/5. Mức cộng giá nhôm giao ngay tại châu Á đã giảm một nửa trong mấy tuần gần đây, mặc dù mức cộng nhôm Mỹ tăng lên mức cao nhất 3 năm, do lượng nhập từ Trung Quốc giảm. Giá chì tăng 0,4% lên 2.527 USD/tấn, trong khi thiếc tăng 1,6% lên 20.975 USD/tấn, cao nhất kể từ 10/5.
Nickel và kẽm cũng tăng lên mức cao nhất hơn 1 tháng sau sự cố nổ ở mỏ sắt Trung Quốc và tồn trữ tại kho sụt giảm. Kẽm trong phiên có lúc lên 3.220 USD/tấn, cao nhất kể từ cuối tháng 4, nhưng kết thúc phiên giảm nhẹ 0,2% xuống 3.192,50 USD/tấn, trong khi nickel cũng có lúc lên 15.845 USD/tấn (cao nhất từ giữa tháng 4) và kết thúc giảm 0,7% xuống 15.635 USD/tấn.
Giá quặng sắt tại Trung Quốc lên mức cao nhất 2 tuần sau vụ tai nạn hầm lò gây lo ngại về khả năng khan hiếm nguồn cung. Quặng sát giao sau trên sàn Đại Liên đầu phiên giao dịch tăng 3% lên 476 NDT (74,52 USD)/tấn, cao nhất kể từ 21/5, và kết thúc phiên vẫn tăng 1,8% so với đóng cửa phiên trước, lên 470,5 NDT/tấn. Vụ nổ tại dự án khai thác quặng sắt của công ty Huamei Group ở tỉnh Liêu Ninh (miền đông bắc Trung Quốc) đã làm chết 11 người và khiến nhiều người khác bị thương hoặc/và mắc kẹt. Dự án này đang được xây dựng, mới ở giai đoạn đầu và dự kiến năm 2019 sẽ đi vào sản xuất với sản lượng 15 triệu tấn mỗi năm. Giá quặng sắt tăng cũng do thành phố thép hàng đầu Trung Quốc, Tangshan thuộc tỉnh Hà Bắc, lên kế hoạch đóng cửa 266 công ty khai thác mỏ.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica giao tháng 7 giảm 1,2 US cent tương đương 1% xuống 1,1825 USD/lb, thấp nhất kể từ 21/5. Đây là phiên giảm giá thứ 4 liên tiếp bởi triển vọng Brazil sẽ được mùa. Cà phê robusta giao tháng 7 giá tăng 7 USD tương đương 0,23% lên 1.751 USD/tấn.
Đường thô giao tháng 7 giá tăng 0,18 US cent tương đương 1,5% lên 12,2 US cent/lb do lo ngại thời tiết khô hạn ở trung nam Brazil, trong khi đường trắng giao tháng 8 tămg 3,6 USD tương đương 1,1% lên 347,30 USD/tấn.
Ấn Độ đã quyết định sẽ dự trữ 3 triệu tấn đường để giải quyết lượng cung dư thừa trên thị trường trong nước, đồng thời cấp tiền cho vay trị giá 44,4 tỷ rupee (661,4 triệu USD) với lãi suất thấp để giúp các nhà máy tăng công suất sản xuất ethanol. Chính phủ cũng ấn định giá sàn tại các nhà máy là 29 rupee/kg (đường tinh luyện) để đảm bảo giá đường bán lẻ không giảm thêm nữa (giá đường tại Ấn Độ hiện thấp nhất 28 tháng). Là nước sản xuất đường lớn thứ 2 thế giới, nếu tính cả lượng dự trữ đệm 4,9 triệu tấn còn từ vụ trước và 36,4 triệu tấn sản lượng năm nay, nguồn cung sẽ cao hơn rất nhiều so với nhu cầu tiêu thụ (tiêu thụ hàng năm khoảng 25 triệu tấn). Hồi tháng 3, New Delhi đã xóa bỏ thuế 20% đối với đường xuất khẩu, và đến tháng 4 đã yêu cầu các nhà máy xuất khẩu 2 triệu tấn đường để giảm lượng tồn trữ.
Mới đây, Tổ chức Đường Quốc tế (ISO) dự báo thặng dư đường toàn cầu trong năm 2017 – 2018 là 10,51 triệu tấn, tăng mạnh so với ước tính trước đó là 5,15 triệu tấn. Theo ISO, sản lượng đường toàn cầu trong năm 2017 – 2018 sẽ đạt 185,21 triệu tấn, vượt mức dự báo 178,7 triệu tấn trước đó, và tăng 10,3% so với mùa vụ trước ở 167,85 triệu tấn “do mức sản xuất kỷ lục tại Ấn Độ và Thái Lan”. ISO đã nâng dự báo sản lượng của Ấn Độ trong năm mùa vụ 2017 – 2018 lên 31,4 triệu tấn, tăng so với ước tính trước đó là 26 triệu tấn; trong khi sản lượng của Thái Lan tăng từ ước tính trước đó là 12 triệu tấn lên 14,35 triệu tấn. Việc điều chỉnh tăng này đã bù đắp cho sự sụt giảm sản xuất tại Brazil trong năm mùa vụ hiện tại, từ mức 36 triệu tấn trước đó xuống 34,5 triệu tấn.
“Dữ liệu cho thấy có khả năng sản xuất toàn cầu sẽ vượt tiêu thụ thêm một mùa nữa, cùng với đó là một đợt thặng dư nhỏ khoảng 6 triệu tấn vào năm 2018 – 2019. Tuy nhiên, có khả năng tình trạng thặng dư sẽ kết thúc vào năm 2019 – 2020”, ISO cho biết trong báo cáo.
Trong báo cáo quý mới nhất, ISO ước tính đã có sự thâm hụt toàn cầu ở mức 3,67 triệu tấn trong năm 2016 – 2017, tăng nhẹ so với dự báo trước đó là 2,54 triệu tấn.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

64,73

-0,79

-0,91%

Dầu Brent

USD/thùng

75,36

-0,02

-0,03%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

48.710,00

-170,00

-0,35%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,90

+0,00

+0,07%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

208,05

+1,05

+0,51%

Dầu đốt

US cent/gallon

213,63

+0,97

+0,46%

Dầu khí

USD/tấn

652,75

-1,75

-0,27%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

66.740,00

-70,00

-0,10%

Vàng New York

USD/ounce

1.301,60

+0,20

+0,02%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.586,00

+7,00

+0,15%

Bạc New York

USD/ounce

16,72

+0,02

+0,13%

Bạc TOCOM

JPY/g

59,00

+0,70

+1,20%

Bạch kim giao ngay

USD/ounce

906,48

+1,04

+0,11%

Palladium giao ngay

USD/ounce

1.019,75

+0,45

+0,04%

Đồng New York

US cent/lb

326,20

0,00

0,00%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

7.220,00

+121,00

+1,70%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.345,00

+33,00

+1,43%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.192,50

-7,00

-0,22%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

20.975,00

+325,00

+1,57%

Ngô

US cent/bushel

378,25

-5,50

-1,43%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

519,75

+9,75

+1,91%

Lúa mạch

US cent/bushel

240,75

-3,25

-1,33%

Gạo thô

USD/cwt

11,56

+0,61

+5,57%

Đậu tương

US cent/bushel

994,25

-7,00

-0,70%

Khô đậu tương

USD/tấn

365,00

-2,30

-0,63%

Dầu đậu tương

US cent/lb

30,65

-0,14

-0,45%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

517,00

-0,90

-0,17%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.296,00

+7,00

+0,31%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

118,25

-1,20

-1,00%

Đường thô

US cent/lb

12,20

+0,18

+1,50%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

165,90

+0,90

+0,55%

Bông

US cent/lb

90,55

+1,57

+1,76%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

592,70

+3,90

+0,66%

Cao su TOCOM

JPY/kg

188,30

+0,20

+0,11%

Ethanol CME

USD/gallon

1,43

-0,03

-1,92%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg