Trên thị trường năng lượng, giá dầu giảm nhẹ do căng thẳng thương mại Mỹ - Trung gia tăng gây lo ngại sụt giảm nhu cầu dầu mỏ toàn cầu.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu Brent trên sàn London giảm 87 US cent, tương đương 1,45%, xuống 58,94 USD/thùng; dầu ngọt nhẹ Mỹ (WTI) trên sàn New York giảm 1,06 USD (1,94%), xuống 53,63 USD.
Giá dầu Brent đã giảm hơn 9% trong tuần qua, trong bối cảnh Tổng thống Mỹ Donald Trump thông báo sẽ áp mức thuế 10% đối với 300 tỷ USD hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc và Bắc Kinh tuyên bố ngừng nhập khẩu nông sản của Mỹ.
Chính phủ Mỹ dự đoán mức tăng sản lượng dầu ở Perminan Basin và các khu vực khai thác dầu đá phiến sẽ bù đắp phần lớn sự sụt giảm sản lượng ở khu vực Vịnh Mexico do bão Barry. Trong khi đó, Iran cảnh báo sẽ ngăn chặn tất cả hoạt động xuất khẩu năng lượng qua Eo biển Hormuz, nơi 20% lượng dầu của thế giới được vận chuyển qua - nếu Tehran không thể bán dầu như đã được các bên cam kết trong thỏa thuận hạt nhân ký kết hồi tháng 7/2015.
Tại Trung Quốc, giá bán lẻ xăng và dầu diesel từ ngày 7/8 giảm lần lượt 80 NDT (khoảng 11,37 USD)/tấn và 70 NDT/tấn dựa trên những biến động gần đây của giá dầu thế giới.
Theo cơ chế giá xăng dầu hiện nay của Trung Quốc, nếu giá dầu thô thế giới tăng/giảm hơn 50 NDT/tấn và duy trì mức giá mới này trong 10 ngày làm việc, thì giá các sản phẩm dầu như xăng và diesel ở Trung Quốc sẽ được điều chỉnh theo. Theo Ủy ban Cải cách và Phát triển Nhà nước Trung Quốc (NDRC), cơ quan này cũng yêu cầu các doanh nghiệp dầu mỏ lớn của Trung Quốc, trong đó có Công ty Dầu mỏ Quốc gia Trung Quốc (CNPC), Công ty Hóa dầu Trung Quốc (CPC) và Công ty Dầu mỏ Ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc (CNOOC), có trách nhiệm đảm bảo nguồn cung dầu ổn định và thực hiện chính sách giá của chính phủ.
NDRC cho biết sẽ theo dõi chặt chẽ diễn những tác động của cơ chế giá hiện nay và nâng cao hiệu quả ứng phó đối với những biến động của thị trường dầu thế giới.
Giá khí tự nhiên tại Mỹ tăng trở lại từ mức thấp nhất 38 tháng trong phiên trước đó, do các dấu hiệu cho thấy rằng sản lượng sẽ giảm, xuất khẩu khí tự nhiên hóa lỏng sẽ tăng và nhu cầu tại Texas sẽ đạt mức cao kỷ lục trong tuần này.
Giá khí tự nhiên kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn New York tăng 4,1 US cent lên 2,111 USD/mBTU.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng tăng lên mức cao nhất hơn 6 năm khi căng thẳng thương mại Mỹ-Trung gây quan ngại về triển vọng tăng trưởng kinh tế thế giới.
Cuối phiên giao dịch, vàng giao ngay tăng 0,5% lên 1.470,96 USD/ounce, trong phiên có lúc đạt 1.474,81 USD/ounce, cao nhất kể từ tháng 5/2013l; vàng giao sau tăng 0,52% lên 1.484,2 USD/ounce.
Theo nhà quản lý danh mục đầu tư Jeff Klearman của GraniteShares, hiện có sự bất ổn về tăng trưởng kinh tế liên quan tới xung đột thương mại Mỹ-Trung Quốc. Chuyên gia này cho rằng sự biến động gia tăng ở các thị trường chứng khoán ở Mỹ nói riêng và trên thế giới nói chung đang hỗ trợ giá vàng và nhu cầu đối với kim loại quý này có thể tiếp tục tăng trong thời gian tới.
Sự bất ổn của các thị trường trên thế giới đã giảm bớt khi Trung Quốc kiểm soát chặt chẽ đồng NDT một ngày sau khi đồng nội tệ của nước này giảm xuống mức thấp nhất trong 11 năm qua. Điều này khiến Mỹ đưa ra cáo buộc Trung Quốc là nước thao túng tiền tệ, một quyết định mà Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC, ngân hàng trung ương) cho rằng “sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng tới trật tự tài chính quốc tế và khiến các thị trường tài chính trên thế giới chao đảo".
Ngân hàng Goldman Sachs cho hay không còn kỳ vọng Mỹ và Trung Quốc sẽ nhất trí “đình chiến” để kết thúc cuộc chiến thương mại kéo dài trước cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ diễn ra vào tháng 11/2020. Theo nhà phân tích cao cấp Jim Wyckoff của Kitco Metals, nhiều ý kiến hiện cho rằng cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung hiện đã “leo lên một nấc thang mới” có thể sẽ khiến Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sớm tiếp tục cắt giảm lãi suất.
Về những kim loại quý khác, giá bạc tăng 0,2% lên 16,42 USD/ounce, giá palađi tăng 1,9% lên 1.441,55 USD/ounce còn giá bạch kim giảm 0,4% xuống còn 849,96 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá đồng đồng vẫn dao động quanh mức thấp nhất 2 năm, khi xung đột thương mại Mỹ - Trung ngày càng gia tăng, làm suy giảm tăng trưởng kinh tế và gia tăng mối lo ngại về nhu cầu kim loại.
Giá đồng giao sau 3 tháng trên sàn London không thay đổi ở mức 5.685 USD/tấn, trong phiên trước đó chạm 5.640 USD/tấn, thấp nhất 2 năm.
Giá quặng sắt tại Đại Liên giảm do triển vọng nhu cầu đối với nguyên liệu sản xuất thép suy giảm và dấu hiệu thiếu hụt nguồn cung toàn cầu giảm bớt.
Giá quặng sắt kỳ hạn tháng 1/2020 trên sàn Đại Liên giảm 2,2% xuống 693,5 CNY/tấn, trong phiên có lúc giảm 2,8% xuống 689 CNY (97,98 USD)/tấn, thấp nhất kể từ ngày 5/7/2019.
Giá thép trên sàn Thượng Hải cũng giảm do triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu và tiêu thụ thép suy yếu, sau cuộc chiến thương mại kéo dài giữa Mỹ - Trung leo thang.
Giá thép cây kỳ hạn tháng 10/2019 trên sàn Thượng Hải giảm 1,9% xuống 3.707 CNY/tấn, thấp nhất kể từ ngày 10/6/2019. Giá thép cán nóng giảm 1,4% xuống 3.658 CNY/tấn, thấp nhất kể từ ngày 19/6/2019.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn ICE tăng 1 US cent tương đương 1% lên 96,6 US cent/lb, sau khi chạm mức thấp nhất 1,5 tháng trong phiên trước đó (94,3 US cent/lb), trong bối cảnh đồng real suy yếu và lo ngại dư cung. Giá cà phê robusta kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn ICE tăng 2 USD tương đương 0,2% lên 1.299 USD/tấn.
Giá đường thô kỳ hạn tháng 10/2019 trên sàn ICE tăng 0,02 US cent tương đương 0,2% lên 11,84 US cent/lb. Giá đường trắng kỳ hạn tháng 10/2019 trên sàn ICE tăng 0,4 USD tương đương 0,1% lên 318,4 USD/tấn.
Giá ca cao chạm mức thấp nhất hơn 1 tháng do nguồn cung tại nước sản xuất hàng đầu - Ivory Coast – tăng. Giá ca cao kỳ hạn tháng 12/2019 trên sàn London giảm 27 GBP tương đương 1,5% xuống 1.804 GBP/tấn, thấp nhất trong hơn 1 tháng. Giá ca cao giao cùng kỳ hạn trên sàn New York giảm 43 USD tương đương 1,9% xuống 2.302 USD/tấn, thấp nhất 2,5 tháng.
Giá ngô và đậu tương tại Mỹ giảm do mưa tại một số khu vực Trung Tây Mỹ nhiều hơn so với dự kiến làm giảm bớt lo ngại năng suất cây trồng suy giảm. Giá ngô kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn Chicago giảm 1-1/4 US cent xuống 4,04 USD/bushel. Giá đậu tương kỳ hạn tháng 11/2019 trên sàn Chicago giảm 3 US cent xuống 8,65-3/4 USD/bushel.
Giá lúa mì giảm do áp lực từ vụ thu hoạch tại Mỹ tăng và đồng USD tăng, thúc đẩy hoạt động bán ra và kéo giá giảm. Giá lúa mì kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn Chicago giảm 10-1/2 US cent xuống 4,84 USD/bushel.
Giá dầu cọ tại Malaysia giảm từ mức cao nhất 2 tháng đạt được trong phiên trước đó, chịu áp lực bởi giá dầu đậu tương tại Chicago suy yếu và chiến tranh thương mại Mỹ - Trung leo thang. Giá dầu cọ kỳ hạn tháng 10/2019 trên sàn Bursa Malaysia giảm 0,4% xuống 2.085 ringgit (498,33 USD)/tấn.
Thương nhân có trụ sở tại Kuala Lumpur cho biết, thị trường theo xu hướng giá dầu đậu tương trên sàn Chicago giảm, song mức giảm được hạn chế do đồng ringgit suy yếu. Đồng ringgit giảm xuống mức thấp nhất 2 tháng, giảm 0,2% so với đồng USD xuống 4,185.
Giá cao su tại Tokyo giảm 8 phiên liên tiếp, ngay cả khi giá cao su kỳ hạn tại Thượng Hải tăng. Giá cao su kỳ hạn tháng 1/2020 trên sàn TOCOM giảm 0,3 JPY (0,0028 USD) xuống 165,9 JPY/kg. Giá cao su TSR20 kỳ hạn tháng 2/2020 trên sàn TOCOM giảm 2,4 JPY xuống 142 JPY/kg. Trong khi đó, giá cao su kỳ hạn tháng 9/2019 trên sàn Thượng Hải tăng 345 CNY (49,04 USD) lên 11.555 CNY/tấn.
Giá hàng hóa thế giới

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

53,63

-1,06

-1,94%

Dầu Brent

USD/thùng

58,94

-0,87

-1,45%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

36.310,00

-720,00

-1,94%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,10

-0,01

-0,38%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

168,61

-0,12

-0,07%

Dầu đốt

US cent/gallon

182,71

+0,31

+0,17%

Dầu khí

USD/tấn

557,75

-1,50

-0,27%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

54.160,00

-890,00

-1,62%

Vàng New York

USD/ounce

1.489,90

+5,70

+0,38%

Vàng TOCOM

JPY/g

5.046,00

+52,00

+1,04%

Bạc New York

USD/ounce

16,59

+0,14

+0,85%

Bạc TOCOM

JPY/g

56,80

+0,30

+0,53%

Bạch kim

USD/ounce

857,85

+5,15

+0,60%

Palađi

USD/ounce

1.442,30

-1,22

-0,08%

Đồng New York

US cent/lb

257,05

+1,30

+0,51%

Đồng LME

USD/tấn

5.683,00

-2,00

-0,04%

Nhôm LME

USD/tấn

1.759,00

-4,00

-0,23%

Kẽm LME

USD/tấn

2.310,00

-1,00

-0,04%

Thiếc LME

USD/tấn

17.000,00

+95,00

+0,56%

Ngô

US cent/bushel

413,25

+0,75

+0,18%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

485,50

+1,50

+0,31%

Lúa mạch

US cent/bushel

267,75

+0,50

+0,19%

Gạo thô

USD/cwt

11,34

-0,09

-0,79%

Đậu tương

US cent/bushel

866,00

+0,25

+0,03%

Khô đậu tương

USD/tấn

301,70

-0,90

-0,30%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,13

+0,20

+0,72%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

448,10

+0,10

+0,02%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.303,00

-43,00

-1,83%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

97,05

+1,40

+1,46%

Đường thô

US cent/lb

11,73

-0,09

-0,76%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

102,90

+4,40

+4,47%

Bông

US cent/lb

58,61

-0,11

-0,19%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

369,60

+11,60

+3,24%

Cao su TOCOM

JPY/kg

166,00

+0,10

+0,06%

Ethanol CME

USD/gallon

1,43

-0,02

-1,38%

Nguồn: VITIC/Bloomberg, Reuters