Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng trở lại trong bối cảnh các nhà đầu tư đẩy mạnh mua vào sau đợt sụt mạnh trong phiên trước đó và qua ngại về đợt đình công của công nhân ngành dầu mỏ Nigieria.
Kết thúc phiên giao dịch, giá dầu ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 1/2018 trên sàn New York tăng 0,73 USD lên 56,69 USD/thùng, trong khi dầu Brent giao tháng 2/2018 trên sàn London tăng 0,98 USD lên 62,20 USD/thùng tại London.
Theo chuyên gia hàng đầu của Interfax Energy tại London Abhishek Kumar, làn sóng mua vào trên thị trường cùng với nỗi lo về một cuộc đình công lớn trong ngành dầu mỏ Nigeria đã giúp giá dầu tăng trở lại. Nigeria là nước sản xuất dầu mỏ lớn nhất châu Phi.
Trong phiên trước, giá dầu Brent và dầu ngọt nhẹ Mỹ đều giảm với mức giảm lần lượt 2,6% và 2,9%, sau khi dự trữ xăng dầu của Mỹ bất ngờ tăng.
Trong khi đó, theo báo cáo của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), dự trữ dầu thô của Mỹ trong tuần tính đến ngày 1/12 giảm 5,6 triệu thùng, xuống 448,1 triệu thùng. Tuy nhiên, giá dầu thô đã không thể tăng cao do các nhà đầu tư lo ngại trước xu hướng tăng mạnh mức dự trữ xăng của Mỹ. Dự trữ xăng tại cường quốc này đã tăng thêm 6,8 triệu thùng, lên 220,9 triệu thùng, trong khi các chuyên gia tham gia khảo sát của hãng tin Anh Reuters chỉ dự báo mức tăng 1,7 triệu thùng.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm do chứng khoán Phố Wall và đồng USD đều tăng giá.
Giá vàng giao ngay giảm 1% xuống 1.251,11 USD/ounce, sau khi có thời điểm rơi xuống 1.250,51 USD/ounce, mức thấp nhất trong vòng 4 tháng; vàng giao tháng 2/2018 giảm 13 USD (1%) xuống 1.253,10 USD/ounce.
Đồng USD chạm mức cao nhất trong hai tuần, trước tâm lý lạc quan của giới đầu tư về triển vọng Quốc hội Mỹ sẽ thông qua chương trình cải cách thuế vào hạn chót 22/12.
Các nhà giao dịch cho biết kể từ giữa tháng 10, giá vàng quanh biên độ từ 1.265-1.300 USD/ounce, khi giới đầu tư liên tục đổ tiền vào thị trường chứng khoán, nơi chứng kiến một loạt các kỷ lục mới.
Về những kim loại quý khác, giá bạc giảm 1,1% xuống 15,79 USD/ounce, sau khi rơi xuống mức thấp nhất kể từ giữa tháng Bảy (15,72 USD/ounce); còn giá bạch kim giảm 1,2% xuống 890,74 USD/ounce, sau khi rơi xuống 889,50 USD/ounce mức thấp nhất kể từ ngày 11/7.
Trên thị trường nông sản, giá cà phê arabica giao tháng 3 giảm 3,2 US cent tương đương 2,5% xuống 1,229 USD/lb, trong phiên có lúc giá xuống 1,221 USD, thấp nhất kể từ 23/6.
Đồng real Brazil giảm mạnh so với USD thúc đẩy hoạt động bán ra.
Robusta giao tháng 1 giảm 28 USD tương đương 1,59% xuống 1.730 USD/tấn.
Đường cũng giảm giá, với đường thô giao tháng 3 giảm 0,14 US cent tương đương 1% xuống 14,31 US cent/lb, trong khi đường trắng giao cùng kỳ hạn giảm 4,10 USD tương đương 1,1% xuống 371,20 USD/tấn.
Hãng môi giới JSG Commodities dự báo giá đường thô năm 2018 sẽ vẫn tương tự như năm 2017, nhưng có thể có lúc giảm xuống dưới 12 US cent/lb. Hãng này dự báo thị trường thế giới sẽ dư thừa khoảng 6 triệu tấn trong năm 2017/17; nguồn cung dư thừa từ Liên minh châu Âu (EU) sẽ gây áp lực tới gí đường trắng, với lượng xuất khẩu vào khoảng 300.000 tấn mỗi tháng.
Đối với thị trường Mỹ, chủ tịch của JSG Commodities, ông Frank Jenkins, nhận định trận bão ở Florida gần đây sẽ không ảnh hưởng nhiều tới sản lượng mía, và nhu cầu dự báo giảm nhẹ nên nhập khẩu đường vào Mỹ sẽ tiếp tục giảm trong năm nay.
Sản lượng đường mía và củ cải Mỹ dự báo sẽ đạt 9,1 triệu tấn (8,3 triệu tấn) trong năm 2017/18, do năng suất mía ở Florida vẫn cao bất chấp bão lớn.
Trận bão Irama xảy ra ở Florida hồi tháng 9 đã gây thiệt hại ước khoảng 2,5 tỷ USD đối với những cây trồng như đường và cam quýt.
Dự báo của ông Jenkin cao hơn mức 8,8 triệu tấn mà Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) dự báo hồi tháng trước.
Theo ông, nhu cầu đường Mỹ năm 2017/18 sẽ đạt 12,2 triệu tấn, tăng 1,5% so với năm trước, nhưng vẫn thấp hơn mức 12,4 triệu tấn do USD dự báo.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

11/11

+/-

+/-(%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

56,96

+0,73

+1,1%

Dầu Brent

USD/thùng

62,20

+0,98

+1,3%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

41.490,00

+580,00

+1,42%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,78

+0,02

+0,65%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

169,65

-0,35

-0,21%

Dầu đốt

US cent/gallon

189,26

-0,44

-0,23%

Dầu khí

USD/tấn

554,25

+4,25

+0,77%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

56.720,00

+580,00

+1,03%

Vàng New York

USD/ounce

1.250,50

-2,60

-0,21%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.535,00

-11,00

-0,24%

Bạc New York

USD/ounce

15,77

-0,03

-0,20%

Bạc TOCOM

JPY/g

57,70

-0,60

-1,03%

Bạch kim giao ngay

USD/t oz.

895,25

+1,40

+0,16%

Palladium giao ngay

USD/t oz.

1.015,47

-0,99

-0,10%

Đồng New York

US cent/lb

296,25

-0,20

-0,07%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.564,00

+14,00

+0,21%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.010,00

-9,00

-0,45%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

3.090,00

+5,00

+0,16%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

19.425,00

-55,00

-0,28%

Ngô

US cent/bushel

351,75

+0,25

+0,07%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

421,25

-0,25

-0,06%

Lúa mạch

US cent/bushel

244,75

-0,25

-0,10%

Gạo thô

USD/cwt

12,15

+0,02

+0,12%

Đậu tương

US cent/bushel

991,75

-0,25

-0,03%

Khô đậu tương

USD/tấn

335,60

+0,40

+0,12%

Dầu đậu tương

US cent/lb

33,22

-0,11

-0,33%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

506,00

+0,10

+0,02%

Cacao Mỹ

USD/tấn

1.880,00

-26,00

-1,36%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

122,90

-3,20

-2,54%

Đường thô

US cent/lb

14,31

-0,14

-0,97%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

153,45

-4,25

-2,69%

Bông

US cent/lb

74,23

+1,51

+2,08%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

425,90

+1,50

+0,35%

Cao su TOCOM

JPY/kg

202,30

-4,70

-2,27%

Ethanol CME

USD/gallon

1,32

0,00

-0,15%

Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg