Trên thị trường năng lượng, giá dầu tăng mặc dù bị kiềm chế bởi sự sụt giảm của thị trường chứng khoán và mối lo ngại về tăng trưởng nhu cầu. Nhà phân tích Phil Flynn, thuộc Price Futures Group, tại Chicago (Mỹ), nhận định các nền tảng cơ bản trên thị trường dầu mỏ vẫn khá vững mạnh, song một số người vẫn tỏ ra quan ngại về tình trạng dư cung.
Kết thúc phiên giao dịch, dầu chuẩn Tây Texas (WTI) tăng 44 US cent (0,78%) lên 56,66 USD/thùng; trong khi dầu Brent tăng 31 US cent (0,47%) lên 66,30 USD/thùng.
Theo các nhà giao dịch, những nỗ lực của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) và các đồng minh như Nga nhằm cắt giảm sản lượng và thắt chặt thị trường đã hỗ trợ giá dầu. Bên cạnh đó, các lệnh trừng phạt của Mỹ nhằm vào Iran và Venezuela cũng có tác động tích cực đến giá “vàng đen”. Hiện Washington đang gây sức ép buộc các chính phủ khác giảm lượng nhập khẩu dầu mỏ từ Iran xuống 0.
Tuy nhiên, giá dầu vẫn chịu áp lực do lo ngại về tình hình kinh tế châu Âu, khiến chứng khoán Phố Wall giảm điểm và “phủ mây đen” lên triển vọng nhu cầu dầu mỏ toàn cầu. Ngày 7/3, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) đã hạ dự báo tăng trưởng kinh tế của Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) trong năm nay và năm 2020 do "những bất ổn" từ địa chính trị cho đến xung đột thương mại đang đè nặng lên nền kinh tế khu vực. Cụ thể, ECB dự báo nền kinh tế Eurozone sẽ tăng trưởng 1,1% trong năm nay, giảm 0,6% so với mức dự báo trước đó.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm do USD mạnh lên so với euro.
Cuối phiên giao dịch, Vàng giao ngay giảm 0,1% xuống 1.285,61 USD/ounce, giao dịch gần mức thấp nhất 5 tuần (đã chạm tới trong tuần này); vàng kỳ hạn đóng cửa giảm 0,1% xuống 1.286,10 USD/ounce.
Chỉ số đồng USD, đo giá trị của đồng bạc xanh so với sáu đồng tiền mạnh, tăng 0,82%, lên 97,6696 vào cuối phiên. Đồng USD lên giá nhờ đồng euro yếu đi sau khi Ngân hàng Trung ương châu Âu hạ dự báo tăng trưởng của Khu vực sử dụng đồng euro trong năm nay xuống 1,1%, so với mức dự báo trước đó là 1,7%, đồng thời thừa nhận rằng tình trạng suy giảm tại Châu Âu dài và sâu sắc hơn so với dự tính ban đầu. Thông báo của ECB làm tăng thêm nỗi lo về suy thoái toàn cầu, giúp củng cố tâm lý chung cho vàng, kim loại được xem như một nơi trú ẩn an toàn trong thời điểm bất ổn kinh tế và chính trị.
Khi đồng USD lên giá, giá vàng thường giảm do kim loại này, được định giá theo đồng bạc xanh, sẽ trở nên đắt hơn cho các nhà đầu tư mua bằng các đồng tiền khác.
Tuy nhiên, đà giảm của giá vàng hạn chế nhờ các chỉ số chứng khoán của Mỹ giảm.
Chỉ số Dow Jones giảm 0,78%, xuống 25.473,23 điểm và chỉ số S&P 500 giảm 0,81%, xuống 2.748,93 điểm, trong khi chỉ số Nasdaq Composite mất 1,13%, xuống 7.421,46 điểm.
Hiện nay các nhà đầu tư hướng tới báo cáo việc làm lĩnh vực phi nông nghiệp của Mỹ vào ngày 8/3, có thể cung cấp thêm sức mạnh của nền kinh tế và nó sẽ ảnh hưởng thế nào tới chính sách tiền tệ của Cục dự trữ liên bang. Vàng rất nhạy cảm với lãi suất của Mỹ vì lãi suất cao hơn làm tăng chi phí việc giữ vàng thỏi và đồng USD tăng giá.
Các nhà phân tích cho biết hỗ trợ vàng là việc các ngân hàng trung ương đang mua mạnh. Trung Quốc, nước tiêu thụ vàng lớn nhất thế giới tăng mua vàng dự trữ lên 60,260 triệu ounce trong tháng 2/2019 so với 59,940 triệu ounce vào cuối tháng 1/2019.
Với các kim loại khác, giá bạc giao tháng Năm giảm 4,5 xu, hay 0,3%, xuống 15,04 USD/ounce, bạch kim giao tháng Tư giảm 11 USD, hay 1,33%, xuống 817,10 USD/ounce.
Trên thị trường kim loại công nghiệp, giá đồng giảm trong phiên qua do dự trữ ngày càng tăng và mức cộng đối với kim loại giao ngay giảm cho thấy tình trạng nguồn cung hạn hẹp trên sàn giao dịch kim loại London có thể dịu đi.
Hầu hết các kim loại cơ bản khác cũng giảm giá sau khi Ngân hàng Trung ương Châu Âu hoãn tăng lãi suất tới năm 2020, thúc đẩy đồng Euro giảm giá so với đồng USD khiến các kim loại đắt hơn cho những người dùng đồng tiền khác.
Giá đồng trên sàn giao dịch LME đóng cửa giảm 0,7% xuống 6.423,5 USD/tấn.
Nhà phân tích Ross Strachan thuộc Capital Economics cho biết những lạc quan về khả năng đạt được một thỏa thuận thương mại Mỹ - Trung và kích thích kinh tế của Trung Quốc giúp đẩy giá tăng cũng đang phai nhạt dần. Đồng tăng hơn 10% từ mức thấp nhất trong tháng 1/2019 cũng cho thấy các thương nhân đã định giá khả năng của một thỏa thuận thương mại, ông dự đoán giá đồng cuối năm ở mức 6.250 USD/tấn.
Dự trữ đồng tại các kho LME trong ngày 6/3 tăng lên 120.075 tấn từ 116.872 tấn, mức thấp nhất kể từ năm 2008. Thị trường đồng của Trung Quốc ít thắt chặt hơn so với kho LME. Dự trữ đồng tại kho của sàn giao dịch Thượng Hải tăng mạnh trong giai đoạn sản xuất tạm lắng theo mùa.
Giá thép kỳ hạn tại Trung Quốc đóng cửa tăng trong phiên qua, sau khi Hà Bắc khu vực sản xuất thép hàng đầu của nước này thông báo giảm công suất trong năm 2019 và 2020 khi họ tìm cách cải thiện chất lượng không khí.
Hợp đồng thép cây dùng trong xây dựng trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải tăng 1,1% lên 3.821 CNY/tấn. Trong phiên giá đã giảm khoảng 1,2% trước khi có tin tức về giảm sản lượng theo kế hoạch được đưa ra. Thép cuộn cán nóng cũng tăng 0,1% lên 3.752 CNY/tấn.
Hà Bắc sẽ cắt giảm công suất sản xuất thép 14 triệu tấn trong cả năm nay và năm tới. Tỉnh Hà Bắc nơi có các trung tâm thép lớn như Đường Sơn và Handan, đã sản xuất hơn 1/4 sản lượng tại Trung Quốc trong năm ngoái.
Tuy nhiên hoạt động xây dựng tại Trung Quốc có khả năng tăng cuối tháng này, có thể giúp thúc đẩy giá thép phục hồi.
Trên thị trường nông sản, đường thô giao tháng 5/2019 giảm 0,02 US cent tương đương 0,1% xuống 12,14 US cent/lb, đường trắng giao cùng kỳ hạn cũng giảm 90 US cent tương đương 0,3% xuống 337,20 USD/tấn.
Cà phê cũng giảm giá trong phiên vừa qua, với arabica giao tháng 5/2019 giảm 1,85 US cent tương đương 1,9% xuống 96,85 US cent/lb, trong khi robusta giao cùng kỳ hạn giảm 27 USD tương đương 1,8% xuống 1.505 USD/tấn.
Tại Việt Nam, người trồng cà phê đang chật vật để đảm bảo có nước tưới trong mùa khô, trong khi giao dịch đã bắt đầu phục hồi tại Indonesia giữa lúc thu hoạch vụ phụ.
Giá cà phê nhân xô tại Tây Nguyên hiện ở mức 33.700 – 34.000 đồng/kg, giảm so với 34.000 – 34.3000 đồng/kg cách đây một tuần. Cà phê robusta loại 2 với 5% hạt đen và vỡ ở mức trừ lùi 50 – 60 USD/tấn so với hợp đồng kỳ hạn tháng 5 của sàn London, so với mức trừ lùi 20 USD/tấn cách đây một tuần.
Tại Indonesia, giá cà phê robusta loại 4 khiếm khuyết 80 ổn định ở mức cộng 70 – 80 USD/tấn trong ngày 5/3 so với hợp đồng kỳ hạn tháng 5. Ngày 6/3 thị trường đóng cửa để nghỉ lễ.
Giá cao su kỳ hạn TOCOM giảm gần 3% trong phiên qua, bất chấp một thỏa thuận hạn chế xuất khẩu giữa các nhà sản xuất chủ chốt. Hợp đồng cao su giao tháng 8/2019 đóng cửa giảm 5,7 JPY, hay 2,8% xuống 198,9 JPY/kg.
Hội đồng cao su 3 bên quốc tế (ITRC) gồm Thái Lan, Indonesia và Malaysia đã đồng ý hạn chế xuất khẩu tổng cộng 240.000 tấn trong 4 tháng bắt đầu từ tháng 4/2019.
Hợp đồng cao su giao tháng 5/2019 trên sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải giảm 275 CNY xuống 12.215 CNY/tấn.
Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

56,66

+0,44

+0,78%

Dầu Brent

USD/thùng

66,30

+0,31

+0,47%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

44.890,00

-160,00

-0,36%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,86

0,00

-0,07%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

179,07

-1,47

-0,81%

Dầu đốt

US cent/gallon

200,14

-1,13

-0,56%

Dầu khí

USD/tấn

613,50

-1,75

-0,28%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

61.090,00

-50,00

-0,08%

Vàng New York

USD/ounce

1.285,90

-0,20

-0,02%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.599,00

-4,00

-0,09%

Bạc New York

USD/ounce

15,02

-0,02

-0,13%

Bạc TOCOM

JPY/g

54,00

+0,10

+0,19%

Bạch kim

USD/ounce

813,30

-1,47

-0,18%

Palađi

USD/ounce

1.521,30

-6,50

-0,43%

Đồng New York

US cent/lb

290,90

-0,15

-0,05%

Đồng LME

USD/tấn

6.423,50

-44,50

-0,69%

Nhôm LME

USD/tấn

1.864,00

-2,00

-0,11%

Kẽm LME

USD/tấn

2.735,00

-53,00

-1,90%

Thiếc LME

USD/tấn

21.475,00

+75,00

+0,35%

Ngô

US cent/bushel

290,90

-0,15

-0,05%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

439,25

+1,00

+0,23%

Lúa mạch

US cent/bushel

265,00

-0,50

-0,19%

Gạo thô

USD/cwt

10,75

-0,04

-0,42%

Đậu tương

US cent/bushel

902,50

0,00

0,00%

Khô đậu tương

USD/tấn

306,30

0,00

0,00%

Dầu đậu tương

US cent/lb

29,66

-0,01

-0,03%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

456,00

-0,20

-0,04%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.182,00

-63,00

-2,81%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

96,85

-1,85

-1,87%

Đường thô

US cent/lb

12,14

-0,02

-0,16%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

116,55

+0,65

+0,56%

Bông

US cent/lb

73,11

-1,10

-1,48%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

381,80

+11,30

+3,05%

Cao su TOCOM

JPY/kg

196,00

-2,90

-1,46%

Ethanol CME

USD/gallon

1,32

-0,03

-1,93%

Nguồn: VITIC/Bloomberg, Reuters, CafeF